TS. Lê Hữu Tỉnh : Kể chuyện bút danh nhà văn – Phần 10

Kể chuyện bút danh nhà văn

MỘT SỐ BÚT DANH, TÊN GỌI

CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lê Hữu Tỉnh

          Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà báo, nhà văn, nhà thơ, danh nhân văn hoá thế giới. Tác phẩm báo chí và thơ văn của Hồ Chí Minh tuy chỉ là một bộ phận khiêm tốn trong sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người nhưng cũng là một di sản tinh thần lớn lao và quý giá. Đó là những bài báo sắc sảo; những áng văn chính luận mạnh mẽ, đầy hào khí; là những truyện ngắn súc tích và giàu chất trí  tuệ; là những “vần thơ thép, mà vẫn mênh mông, bát ngát tình”… Dưới đây, chúng tôi chỉ nói tới một số bút danh gắn với những tác phẩm báo chí, thơ văn nổi tiếng của Người và một số tên gọi của Người ở thời thơ ấu, tuổi thiếu niên và tuổi thanh niên.

*

*    *

          Theo tư liệu trích từ cuốn “Bác  Hồ thời niên thiếu” của Ban Khoa giáo Tỉnh uỷ Nghệ An (NXB Chính trị Quốc gia, H.2000), đám cưới của ông Nguyễn Sinh Sắc và bà Hoàng Thị Loan được tổ chức tại làng Chùa (xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, Nam Đàn, Nghệ An) vào năm 1883. Bảy năm sau, bà Hoàng Thị Loan đã là người mẹ của ba con, trong đó có hai con trai là Nguyễn Sinh Khiêm (sinh năm 1888) và Nguyễn Sinh Cung (sinh năm 1890). Tên khai sinh của hai anh em (Khiêm – Cung) và cả tên chữ, tên được đặt trong “lễ vào làng” của hai anh em (Tất Đạt – Tất Thành) đều gắn với hàm ý sâu xa của các bậc sinh thành. Có thể nói tên hai anh em đều nằm trong một trường nghĩa. Nguyễn Sinh là họ của cha; Khiêm có nghĩa chữ Hán là nhún nhường (trong các từ khiêm tốn, khiêm nhượng); Cung có nghĩa là kính cẩn (trong các từ cung kính, cung chúc). Với hàm nghĩa như vậy, phải chăng cha mẹ mong muốn con cái có ý thức giữ gìn truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình và luôn sống khiêm tốn, nhường nhịn, kính trên nhường dưới… Hai cái tên khai sinh Nguyễn Sinh Khiêm Nguyễn Sinh Cung còn gắn với một mẩu chuyện nói về cuộc sống thanh bần của quan Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Chuyện kể rằng: ông Nguyễn Sinh Sắc đậu Phó bảng năm 1901. Sau đó, ông đưa con cái về sinh sống ở Làng Sen quê nội. Tiếng là con quan Phó bảng nhưng cách sinh hoạt của anh em Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung cũng không có gì khác trước. Cả gia đình vẫn sống rất đạm bạc. Có lần khách đến thăm nhà, hỏi tên các con, quan Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã nói đùa: “Cu anh tên Khơm, cu em tên Côông, “Khơm Côông” mà”. (Khơm Côông là âm địa phương khi gọi Khiêm, Cung. Khơm Côông nói lái là “không cơm”).

          Cũng trong thời gian này, khi chuyển gia đình về quê nội Làng Sen, theo tục lệ, ông Nguyễn Sinh Sắc đã làm “lễ vào làng” cho hai con  trai với tên mới: Nguyễn Sinh Khiêm được đổi thành Nguyễn Tất Đạt, còn Nguyễn Sinh Cung được gọi là Nguyễn Tất Thành. Tất Đạt Tất Thành là tên mới của hai anh em, đã được ghi vào “sổ làng”. Khi đặt tên chữ cho con, chắc quan Phó bảng nghĩ tới tương lai của con. Lúc này, Nguyễn Sinh Khiêm mới 13 tuổi, còn Nguyễn Sinh Cung 11 tuổi. Có thể quan Phó bảng còn băn khoăn về đường học vấn của con cái? Đặt tên con là Tất Đạt, Tất Thành, ông những mong cho các con thành đạt, có ích cho đời. Tên gọi Nguyễn Tất Thành gắn với tuổi thiếu niên (từ năm 1901) và cả tuổi thanh niên của Bác Hồ (Năm 1907 vào Huế học ở trường Quốc học; năm 1909 đến Phan Thiết , được giới thiệu vào dạy học ở trường Dục Thanh; mùa xuân năm 1911 lần đầu đặt chân đến thành phố Sài Gòn.).

          Đến Sài Gòn, với hoài bão, quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành xin làm việc ở tàu Đô đốc Latusơ Tơrêvin để có cơ hội sang Pháp. Ngày 3-6-1911, Nguyễn Tất Thành bắt đầu làm việc trên tàu. Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc ra đi, bắt đầu cuộc hành trình cứu nước. Trong sổ lương của tàu, tên của anh là Văn Ba.

          Sau đó, người thanh niên yêu nước đã đặt chân tới rất nhiều vùng đất trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước, từ nước Pháp (1911) đến nước Mỹ (1912), nước Anh (1914), rồi trở lại Pháp (1919) với một cái tên mới: Nguyễn Ái Quốc. Người tự coi mình là một chiến sĩ ái quốc, một người yêu nước, luôn tâm niệm sẽ bằng mọi cách để cứu dân, cứu nước ra khỏi cảnh lầm than nô lệ. Nguyễn Ái Quốc buy phenergan 250/50 price phenergan 500 50 buy Promethazinemột người yêu nước họ Nguyễn, một cái tên gắn với lí tưởng, hoài bão và cả sự tự tin, niềm kiêu hãnh. Với bút danh Nguyễn Ái Quốc, Người đã viết hàng trăm bài báo phục vụ sự nghiệp tuyên truyền cách mạng. Cũng với bút danh này, Người đã viết các tác phẩm quan trọng đối với cách mạng Việt Nam: “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925), “ fluoxetine : where to buy online cheap fluoxetine medicine. trusted online pharmacies offer quality fluoxetine medication for reasonable cost. check prices and  Đường cách mệnh” (1927). Nguyễn Ái Quốc là một cái tên để lại nhiều dấu ấn trong lịch sử, trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, song Người chỉ khiêm tốn nhận mình là “Tôi vẫn là tôi ngày trước: một người yêu nước.” (Theo Trần Dân Tiên – Hồ Chí Minh truyện, NXB Tháng Tám, Thượng Hải, Trung Quốc, 1949).

          Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc dùng bút danh Nguyễn trong một bức tranh đăng trên báo “Người cùng khổ”. Như vậy, bút danh này xuất hiện trong tư cách của một hoạ sĩ. Bút danh Nguyễn còn được sử dụng trong bài báo “Đông Dương khổ nhục”, viết năm 1928. Từ năm 1924, Nguyễn Ái Quốc dùng bí danh Lý Thụy trong thời gian Người hoạt động ở Trung Quốc. Phải chăng từ bí danh này mà hình thành bút danh L.T. Năm 1925, bút danh L.T xuất hiện trong Thư gửi ông H. (Thượng Huyền). Mãi sau này, năm 1949, bút danh L.T còn được ghi trong bài “Thuốc đắng dã tật, nói thật mất lòng” đăng trên báo “Sự thật”, số 109. Bài báo khẳng định sức mạnh của phê bình, phê bình công khai, cũng như thuốc đắng dã tật.

          Tố Hữu đã từng viết “Người là Cha, là Bác, là Anh”. Nhân dân Việt Nam gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là order online at usa pharmacy! buy prednisone online uk . express delivery, order prednisone canada. Bác – một cách gọi thân mật, gần gũi, tự nhiên, quen thuộc. Nhưng ít người biết rằng, tên gọi này lần đầu xuất hiện trong Hội nghị Trung ương lần thứ tám, tháng 5 năm 1941 ở  Pác Bó, Hà Quảng, Cao Bằng. Dịp đó, mọi người dự hội nghị được biết có đại biểu quốc tế là đồng chí Nguyễn Ái Quốc cũng có mặt. Lần đầu, khi gặp đồng chí Nguyễn Ái Quốc, mọi người không biết xưng hô thế nào. Đồng chí Hoàng Quốc Việt đã kể trong Hồi kí rằng: “Mới đầu chúng tôi đều gọi Bác là đồng chí, rồi gọi là cụ, sau thấy anh Trường Chinh và anh Hoàng Văn Thụ dùng tiếng Bác, anh em thấy gọi như thế hợp với lòng mình, nên từ đấy chúng tôi bắt đầu thưa với Bác bằng cái tên thân yêu mà bây giờ tất cả chúng ta đều gọi. Tiếng Bác được dùng rộng rãi từ sau năm 1945. Sau này, tên gọi Bác  còn được kí dưới một số thư gửi các đồng chí Trung ương và Bộ Chính trị. (Vì vậy, tên gọi này được hiểu là một bút danh).

          Năm 1942, Nguyễn Ái Quốc được Trung ương cử sang Trung Quốc để phối hợp hành động giữa phong trào Việt Minh với phong trào chống Nhật của nhân dân Trung Quốc và các lực lượng đồng minh chống phát xít. Để đánh lạc hướng bọn mật thám, Nguyễn Ái Quốc lấy tên mới là Hồ Chí Minh. Nhưng đến phố Túc Vinh, huyện Đức Bảo, tỉnh Quảng Tây thì Người bị lính tuần canh bắt giữ và Người đã phải trải qua “Mười bốn trăng tê tái gông cùm” ở nhiều nhà tù trên khắp 13 huyện thị của tỉnh Quảng Tây. Điều đáng nói ở đây là cái tên mới của Người: Hồ Chí Minh lại gắn với tập thơ nổi tiếng Ngục trung nhật kí, để đến đây ta có thể nói rằng: “bên cạnh nhà chính trị lỗi lạc Nguyễn Ái Quốc, ta lại có thêm nhà thơ lỗi lạc Hồ Chí Minh”.

          Về xuất xứ, hoàn cảnh ra đời của tên gọi đồng thời là bút danh Hồ Chí Minh, hiện còn một số cách giải thích khác nhau. Hồi kí cách mạng của đồng chí Vũ Anh là một trong những tài liệu đề cập tới xuất xứ của tên gọi này:

“Tháng 8 năm 1942, Bác có việc phải đi ra nước ngoài. Tôi được Bác giao nhiệm vụ chuẩn bị giúp Bác. Gọi là chuẩn bị, nhưng công việc cũng chẳng có gì. Trong túi của Bác chỉ có một bộ quần áo tây và một bộ quần áo chàm người Nùng. Tôi lấy đá mềm khắc hai con dấu: một con dấu của Việt Nam độc lập Đồng minh hội và một của Quốc tế phản xâm lược Việt Nam phân hội. Bác tự viết hai giấy giới thiệu của hai đoàn thể trên cử Cụ Hồ Chí Minh đi gặp chính phủ Trung Quốc. Mục đích chính của Bác là qua gặp Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Cái tên Cụ Hồ Chí Minh ra công khai từ đó. Và cũng từ đó, tên của Người ngày càng làm rạng rỡ Đảng ta, nhân dân ta, đất nước ta. Lúc bấy giờ, Bác có một danh thiếp đề tên Hồ Chí Minh”. (Trích Đầu nguồn, NXB Văn học, H.1975)

          Năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng bút danh X.Y.Z. trong nhiều bài báo và một số tác phẩm quan trọng, trong đó có tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”. Bút danh này được Người sử dụng đến năm 1950. Năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng bút danh Lê Quốc Thắng. Với bút danh này, người viết tác phẩm Cần kiệm liêm chính, trong đó, có những câu, những lời dạy mộc mạc, bình dị nhưng sâu sắc mà chúng ta khó có thể quên:

Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính

Thiếu một mùa thì không thành trời

Thiếu một phương thì không thành đất

Thiếu một đức, thì không thành người.

          Cũng năm 1948, thật thú vị, với bút danh K.T., Chủ tịch Hồ Chí Minh dịch hai bài thơ chữ Hán: Bài thứ nhất là bài Thu dạ do Người sáng tác; bài thứ hai do cụ Bùi Bằng Đoàn viết, hoạ lại bài Thu dạ của Người. Bài Thu dạ được Người dịch sang tiếng Việt như sau:

Trù tính canh chầy, tạm nghỉ ngơi

Gió mưa thu báo đã thu rồi

Kèn thu bỗng dậy bên kia núi

order online at usa pharmacy! buy dapoxetine uk online . online drugstore, buy dapoxetine in india.

Du kích về rồi, rượu chửa vơi.

          Bài thơ của cụ Bùi Bằng Đoàn được Người dịch sang tiếng Việt như sau:

Cuộc luyện quân không một phút ngơi

Dãi dầu mưa gió, vẫn đùa vui

Tướng thêm thao lược, quân thêm mạnh

Đánh lũ xâm lăng phải chạy dài.

          Từ năm 1948 đến năm 1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn dùng bút danh Trần Lực. Với bút danh này, Người viết gần 70 bài báo và một số tác phẩm ngắn, trong đó có tác phẩm quen thuộc: “Đạo đức cách mạng”. Trong tác phẩm này, Người chỉ rõ tầm quan trọng của việc rèn luyện đạo đức cách mạng, qua  những câu nói giàu hình tượng, càng đọc càng thấm thía: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

          Có một bút danh quen thuộc khác của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà ở đó ẩn chứa nhiều điều thú vị, đó là bút danh T.Lan. Bút danh này được ghi trong tác phẩm “Vừa đi đường vừa kể chuyện” – gồm những mẩu chuyện kể về cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú của Chủ tịch Hồ Chí Minh – từ khi ra nước ngoài tìm đường cứu nước (năm 1911) đến ngày Người trở về Tổ quốc (năm 1941) sau 30 năm xa cách. Điều thú vị ở đây là, trong các tác phẩm này, Người vào vai tác giả, kể chuyện về Cụ Hồ (như là một khách thể, ở ngôi thứ ba). Vì vậy, tác phẩm không phải là một cuốn hồi kí, tự truyện, mà là một tập truyện kể về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ở đây, tác giả có sự “phân thân” rất khéo léo, tự nhiên, vì vậy tác phẩm mang tính khách quan, tính thuyết phục rất cao. Bút danh này còn được ghi trong một bài báo khác, bài “Bác ăn Tết với chúng tôi baclofen reviews for fibromyalgia, baclofen without prescription, baclofen like doctors of night finds baclofen 4rx but being softer and so get ill to themselves. ” đăng trên báo Nhân dân ngày 14/2/1961. Bài báo này cũng là bài “Bác Hồ viết về Bác Hồ”, với cách “phân thân” tự nhiên, khéo léo, giống như tác phẩm “Vừa đi đường vừa kể chuyện” ở trên.

          Một điều thú vị khác nữa là cũng với bút danh T.Lan này, Người đã dịch rất thành công bài thơ chữ Hán “Tân xuất ngục, học đăng sơn” do bản thân mình sáng tác. Bài thơ “Tân xuất ngục, học đăng sơn” được chính tác giả dịch ra tiếng Việt như sau:

              “Mây ôm núi, núi ôm mây

     Lòng sông sạch chẳng mảy may bụi hồng.

              Bùi ngùi dạo đỉnh Tây Phong

     Trông về cố quốc chạnh lòng nhớ ai ”.

*

*     *

          Một cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi, phong phú gắn với nhiều tên gọi, bí danh khác nhau; một cây bút không có ý định làm văn chương nghệ thuật, nhưng đã thành danh trên nhiều phương diện, nhiều thể loại, từ thơ ca, truyện kí, đến văn chính luận… gắn với những bút danh, bút hiệu khác nhau; một nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà hoạt động chính trị lỗi lạc; một danh nhân văn hoá thế giới… Cuộc đời đó, con người đó, sự nghiệp đó, không ai khác chính là cuộc đời – con người – sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

                                                                             Đầu năm 2007

                                                                                   L.H.T