Thái úy Tô Hiến Thành: Trọn nghĩa vua tôi, một đời liêm khiết

Tô Hiến Thành hiệu là Phi Diên (còn có tên hiệu khác là Đại Liêu), người hương Ô Diên, huyện Từ Liêm, nay là làng Hạ Mỗ, xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Ông sinh ngày 22 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ (1102), mất ngày 12 tháng 6 năm Kỷ Hợi (1179), hưởng thọ 78 tuổi.

Ông là con quan phủ doãn Tràng An Tô Trung và bà Nguyễn Thị Đoan. Ông còn là cháu ruột của thiền sư Nguyễn Trí Bảo, nhà lí luận xuất sắc thế hệ thứ 10 dòng thiền Quan Bích, thời Lý.

Ngọc phả của làng Hạ Mỗ còn cung cấp cho chúng ta một điều thú vị về tính cách không gì lay chuyển được của Thái úy Tô Hiến Thành

Từ thuở nhỏ, Tô Hiến Thành đã tỏ rõ trí thông minh hơn người. Không những vậy, ông còn chăm chỉ rèn luyện võ nghệ. Nhờ vậy, Tô Hiến Thành nổi tiếng trong vùng là người văn võ song toàn. Khoa thi năm 1138 ông xin ứng thí và đỗ Thái học sinh. Từ đó, ông ra làm quan trong triều trải qua 3 triều vua, từ Lý Thần Tông, Lý Anh Tông (1138 – 1175) và Lý Cao Tông (1175 – 1210). Ông từng giữ các trọng trách quan trọng của đất nước như Thái úy, Thái phó, Đô tướng, Nhập nội kiểm hiệu, Bình chương quân quốc trọng sự, lập được nhiều công lao cho đất nước. Ông được các nhà sử học đời sau hết lời ca ngợi về tấm lòng vì nước, vì dân.

Nói về Tô Hiến Thành, trước tiên chúng ta sẽ nghĩ ngay tới một danh tướng, một nhà quân sự tài ba của nhà Lí. Không những vậy, ông còn là một chính khách nổi tiếng khi “nhận cố mệnh giúp đỡ Đông Cung” làm phụ chính đại thần.

Về mặt quân sự, Tô Hiến Thành thể hiện rõ bản lĩnh của một vị võ tướng tài ba thông qua các chiến công trong suốt cuộc đời cầm quân của mình

Năm 1441, Tô Hiến Thành lập công lao lớn đầu tiên: bắt sống Thân Lợi, dẹp tan cuộc nổi loạn ở vùng núi phía Bắc.

Năm 1159, ông trấn dẹp Ngưu Hống và Ai Lao làm phản. Nhờ đó mà được phong làm Thái úy.

Tháng 2 năm 1160, Tô Hiến Thành cùng với Phí Công Tín được vua phái đi tuyển chọn dân đinh, tuyển vào quân đội, người nào am thạo binh pháp thì cho cai quản.

Năm 1161, Tô Hiến Thành đem quân cùng Đỗ An Di dẹp yên miền biên giới Tây Nam.

Năm 1167, Tô Hiến Thành đem quân đánh Chiêm Thành. Vua Chiêm phải dâng cống vật xin giảng hòa. Từ đó, Chiêm Thành không dám gây rối biên giới nước ta nữa.

Dưới sự chỉ huy của Thái úy Tô Hiến Thành, quân đội nhà Lý đã mạnh lên rất nhiều. Trật tự trị an trong nước được giữ vững. Chiêm Thành, Ngưu Hống, Ai Lao không dám quấy nhiễu, Đại Tống phải kiêng nể.

Một năm trước khi qua đời ông vẫn xin nhà vua được cầm quân ra trận. Tấm lòng trung nghĩa của ông khiến cho nhà vua vô cùng cảm phục mà đồng ý

.Tô Hiến Thành

Ngày nay nhân dân trong làng Hạ Mỗ đã lập Đền thờ Ông để tỏ lòng biết ơn. Ảnh : Anh Tuấn

Về mặt chính trị, Tô Hiến Thành tham gia xây dựng và củng cố triều chính.

Ông đã chấn chỉnh được các hoạt động của triều đình, đưa vào nề nếp. Theo sách Toàn thư cho biết: “Hiến Thành lãnh cấm binh, nghiêm hiệu lệnh, thưởng phạt công bằng, người trong nước đều quy phục”. Chỉ với vài dòng ngắn ngủi đó cũng đã cho thấy Tô Hiến Thành đã cố gắng làm tất cả để vực dậy một vương triều đang suy sụp và ông đã thành công nên “người trong nước mới đều quy phục”.

Với vai trò Nhập nội kiểm hiệu, Thái phó, Bình chương quân quốc trọng sự rồi Quyền nhiếp chính sự (từ năm 1175) Tô Hiến Thành trung thành với di chiếu của vua Anh Tông đưa thái tử Long Trát lên ngôi.

Chuyện kể rằng:

Thái hậu Chiêu Linh vì muốn con trai mình là Long Xưởng được kế vị, đã đem vàng bạc đến “biếu” vợ Tô Hiến Thành để ngầm xin ông thay đổi di chiếu của tiên đế. Khi Tô Hiến Thành biết chuyện đem trả lại vàng bạc và nói:

“Ta là bậc đại thần, chịu mệnh vua kí thác giúp ấu chúa. Nay lại nhận hối lộ mà bỏ người nọ, dựng người kia thì còn mặt mũi nào nhìn tiên đế ở dưới suối vàng nữa”.

Thái hậu lại cho triệu ông vào dụ dỗ, thậm chí gây cả sức ép nhưng không sao lay chuyển được ý chí của ông. Ông đã khảng khái nói với Thái hậu rằng:

“Làm việc bất nghĩa mà được giàu sang, kẻ trung thần nghĩa sĩ đâu có chịu làm. Huống chi lời tiên đế còn văng vẳng bên tai. Thái hậu không nghe chuyện Y Doãn, Hoắc Quang sao ? Thần không dám vâng chiếu”.

Đến đây Thái hậu đã không dám xin Tô Hiến Thành thay đổi di chiếu nữa. Người xưa mến phục ông ví ông như Vũ Hầu (Gia Cát Lượng) vậy.

Tháng 6 năm Kỷ Hợi (1179) khi Tô Hiến Thành lâm bệnh nặng Tham tri chính sự Võ Tán Đường ngày đêm hầu hạ bên cạnh ông rất chu đáo. Còn Gián nghị đại phu Trần Trung Tá do bận việc chống giặc nơi biên cương mà không thể chăm sóc cho ông.

Thái hậu đến thăm ông và có hỏi rằng:

“Nếu chẳng may ông mất thì ai là người có thể thay thế ông gánh vác công việc của triều đình ?”

Tô Hiến Thành thưa:

“Tâu Thái hậu, Gián nghị đại phu Trần Trung Tá có thể thay tôi”

Thái hậu ngạc nhiên hỏi:

“Võ Tán Đường là người ngày đêm hầu hạ, săn sóc cho ông, sao ông lại không nói tới ”

Tô Hiến Thành chậm rãi trả lời:

“Thái hậu hỏi ai là người thay thế thần để lo việc lớn của đất nước nên thần tiến cử Trung Tá. Còn nếu hỏi ai là người hầu hạ tận tình nhất thì còn ai ngoài Tán Đường”.

Trước lúc lâm chung ông vẫn luôn chí công vô tư, một lòng vì đất nước mà tiến cử hiền tài chứ không vì tình riêng. Thật là đáng khâm phục cho tấm lòng của một bậc đại thần. 

Về mặt văn hóa, đóng góp lớn nhất của ông chính là việc ông xin vua lập miếu thờ Khổng Tử riêng.

Theo Việt sử thông giám cương mục còn ghi: Năm 1070, Văn Miếu Quốc Tử Giám được xây dựng chung cho cả Chu Công và Khổng Tử. Đến năm 1156, Khổng Tử mới được thờ riêng tại phía Nam thành Thăng Long (Văn Miếu ngày nay) do đề nghị của Tô Hiến Thành.

Việc làm của Tô Hiến Thành đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của Nho học, nền văn hiến Đại Việt được xây dựng và phát triển rực rỡ.

Một đóng góp nữa về mặt văn hóa của Tô Hiến Thành là ông đã giúp duy trì lệ cũ, đổi niên hiệu triều vua.

Theo sử gia Ngô Sĩ Liên “Vì có Tô Hiến Thành phụ chính, biết trở lại lệ cỗ”. Lý Cao Tông lên ngôi từ tháng 7 năm Ất Mùi (1175) đến tháng Giêng năm Bính Thân (1176) mới đổi lại niên hiệu, đại xá cho thiên hạ.

Về mặt kinh tế, Tô Hiến Thành luôn chăm lo đời sống nhân dân, khuyến khích mở mang nông nghiệp, đặc biệt là việc tổ chức khẩn hoang miền biển (công việc sau này đã được nhà Trần, nhà Lê rồi cả nhà Nguyễn tiếp tục).

Năm 1161, Thái úy Tô Hiến Thành được triều đình cử ra Ngải Môn Quan (Ngải Am – Vĩnh Bảo – Hải Phòng) giúp dân trị thủy, khai khẩn đất hoang, mở rộng sản xuất. Cảm tạ công đức của Thái úy Tô Hiến Thành các làng Cổ Am, Tiêm Am, Đông Am, … huyện Vĩnh Bảo đã lập đình miếu thờ và suy tôn ông là Thành hoàng làng.

Tháng 6 năm Kỷ Hợi (1179), Thái úy Tô Hiến Thành qua đời. Đó là một tổn thất cho triều đình nhà Lý đang trên đường suy sụp. Sau khi Tô Hiến Thành mất, vua bớt ăn 3 ngày, nghỉ thiết triều 6 ngày.

Không chỉ có vua Lý Cao Tông mà về sau còn có rất nhiều các vị vua, các nhà sử học và các văn nhân hết lời ngợi ca tấm lòng của Thái úy Tô Hiến Thành.

images

Tượng đồng thể hiện sự văn võ song toàn của Ông tại Đền Tô Hiến Thành – Hạ Mỗ

 Ảnh: Anh Tuấn

Vào thời Trần, thượng hoàng Trần Nghệ Tông cho vẽ bức tranh “Tứ phụ đồ” để tặng thái sư Hồ Quý Ly. Trong tranh, chân dung Tô Hiến Thành được đặt cạnh chân dung của Chu Công, Hoắc Quang và Gia Cát Lượng. Bức tranh nói về bộ tứ – “tứ phụ”: Những người đã có công phò ấu chúa, đảm bảo sự kế vị chính thống của các triều đại.

Chu Công giúp Thành Vương, Hoắc Quang giúp Chiêu Đế, Khổng Minh giúp Hậu Chủ và Tô Hiến Thành giúp Lý Cao Tông. Đó đều là các nhà chính trị nổi tiếng của Trung Quốc và Việt Nam có công lao to lớn trên chính trường. Qua đây, ta thấy Tô Hiến Thành được ví ngang các đại thần nổi tiếng của Trung Quốc.

Vua Tự Đức lại làm một bài thơ ngợi khen Thái úy Tô Hiến Thành như sau:

“Nghĩa trọng tài khinh thị trượng phu

Y, Chu tâm tích thế gian vô

Lâm chung nhất ngữ do kim thạch

Tinh nhật quang huy tứ phụ đồ”

Dịch nghĩa:

“Nghĩa trọng tài khinh, bậc trượng phu

Tấm lòng tích tụ đức Y, Chu

Sắt đá một thời khi vĩnh biệt

Sáng tỏ ngày đêm tứ phụ đồ”

Dịch thơ:

“Một lời sau trước như vàng đá

Sáng mãi gương soi Tứ phụ đồ”

Quốc sử quán triều Nguyễn trong Việt sử thông giám cương mục, vua Tự Đức thường có lời phê sau mỗi nhân vật hoặc sự kiện lớn. Về quan Thái úy Tô Hiến Thành, ông có viết như sau: “Sau Gia Cát Vũ Hầu chỉ có một người ấy thôi”.

Đáng quý biết làm sao ! Vua Tự Đức làm thơ, viết văn ca ngợi Tô Hiến Thành như muốn nêu cao một tấm gương sáng về lòng trung thành, vì nước vì dân của một đại thần đã mất cách đó hơn 700 năm.

Lời nói của sử thần Ngô Sĩ Liên sau đây đã nói lên toàn bộ tài năng, đức độ của Đức Thánh Tô: “Tô Hiến Thành nhận việc ký thác con côi, hết lòng trung thành, khéo léo xử trí khi biến cố, tuy bị gió lay sóng dập mà vẫn đứng vững như cột đá giữa dòng, khiến trên yên dưới thuận, không thẹn với phong độ của đại thần thời xưa. Huống chi đến lúc sắp chết còn vì nước mà tiến cử người hiền, không vì ơn riêng. Thái hậu không dùng lời nói của Tô Hiến Thành là việc không may cho nhà Lí vậy …”

 Thái úy Tô Hiến Thành