PHONG TỤC TẬP QUÁN VÀ LỄ HỘI CỔ TRUYỀN

PHONG TỤC TẬP QUÁN VÀ LỄ HỘI CỔ TRUYỀN

Cách ngày nay hơn 14 thế kỷ, Ô Diên một thời đã là kinh đô Nhà nước Vạn Xuân, người bốn phương tụ hội.

Trải dài bao năm tháng, nhiều người tới đây sinh cơ lập nghiệp gây dựng và phát triển, rồi có con đống cháu đàn thành nhiều dòng họ (38 họ). Người tới trước, kẻ đến sau, họ chung sống cùng nhau, kề vai sát cánh xây dựng xóm làng, hòa chung một khối tạo lập cho quê nhà các phong tục tập quán riêng được truyền từ đời này qua đời khác. Cũng như bao làng Việt cổ, nhân dân Hạ Mỗ đã xây dựng cho mình một đời sống tinh thần phong phú, trong đó lễ hội và nhiều phong tục mang bản sắc đậm đà hình ảnh vị thành hoàng làng cùng sự tồn tại và phát triển của mảnh đất Ô Diên ngàn năm văn hiến.  Trong quá trình xây dựng và trưởng thành, ở mỗi giai đoạn lịch sử cùng với các thiết chế xã hội khác nhau, mỹ tục thuần phong vẫn được bảo lưu, hủ tục dần dần được sửa đổi.

Dưới triều đại phong kiến, Hạ Mỗ đã được nhà vua ban tặng biển “ Mỹ tục khả phong”.

Biển ngạch vua ban được dân làng tưng bừng đón rước đưa về đình làng hết sức trân trọng, đời nọ truyền cho đời kia. Các lớp cháu con đời sau mỗi khi được nghe kể lại sự tích tấm biển ngạch vua ban ấy, ai nấy không khỏi bồi hồi, xúc động và nhận thấy thực sự tự hào về cha ông mình ngày trước. Niềm tự hào chính đáng ấy đã tạo cho họ một sức mạnh lớn lao, một nghị lực phi thường đủ để vượt qua mọi gian nan trong cuộc sống đời thường, đứng vững và phát triển.[1] Những phong tục tập quán hay của người Hạ Mỗ đến nay vẫn được lưu truyền và phát huy có hiệu quả. Đôi câu đối Nôm ở cổng xóm Lẻ làng Hạ Mỗ đã ghi lại điều đó:

Truyền thống đẹp đắp bồi từ vạn thủơ

Phong tục hay gìn giữ đến muôn đời.

Ăn tết” ở Hạ Mỗ có thể nói là quanh năm có tết. Cả một chuỗi tết của người Việt vẫn được bảo lưu ở đây: Tết Nguyên Đán, Nguyên Tiêu, Mồng 3 tháng Ba ( Tiệc bánh trôi), Tết mồng 5 tháng Năm ( Đoan Ngọ, rượu nếp, hoa trái để “ giết sâu bọ”, Tháng Bảy ngày Rằm xá tội vong nhân, Tết Trung Thu, Tết xôi mới, Tết ông Táo… Ngoài ra còn các ngày lễ riêng của làng như “ ăn chạp” 12 tháng Chạp, tảo mộ 25 tháng Chạp, ăn xóm sau lễ khai hạ. Và đã ăn tết thì phải có bánh trái,  có cỗ cúng ông bà ông vải ở từng nhà, tế lễ ở đình chùa, đền miếu.

Ngay tết Trung thu ( Rằm tháng Tám) ở đây cũng không có quan niệm là : “Tết trẻ con” mà Tết Trung thu là của mọi lứa tuổi, của mọi nhà. Tết Trung Thu cũng được tế lễ ở đình làng. Nội dung bài văn tế được ghi rõ: “ Đại vương Thánh thần văn võ, đại lược hồng mô, nhất phương chủ tể, vạn cổ nguy lâu. Tư duy bát nguyệt tiết giới Trung Thu, quyết phương khải hán. Lễ tái tuân chu, ngưỡng kỳ duệ giám. Tích dĩ hoằng hưu, nhân đào khang thái, vật hựu hy du”   ( Đại vương ( Ông Trăng) là bậc thánh thần, tài thao lược, mưu kế xa. Ngài là chúa tể cả một phương, muôn đời ở trên lầu cao ngất. Riêng đến tháng Tám ngày tết Trung Thu, khơi sông mở rộng Thiên Hà. Lễ hàng năm theo lệ từ trước, ( dân) ngửa trông kính mến, cầu xin ( Đại vương) sáng suốt như gương soi thấu hiểu tới chỗ sâu xa,cho điều tốt lành ở khắp nơi nơi, con người, cảnh vật đều được sống yên vui).

Ngày hội làng nhân kỷ niệm ngày sinh của Thành hoàng cũng là dịp vui xuân đầu năm, người Hạ Mỗ tổ chức linh đình rước tượng vua, tế lễ, ăn tiệc, vui hội gần hết tháng Giêng. Đây là dịp để con cháu gần xa được trở về đoàn tụ và để đón khách thập phương, anh em bạn bè khắp nơi về dự hội chung vui với làng, có dịp vãng cảnh và giao lưu ở từng nhà.

Để chuẩn bị cho lễ hội làng hàng năm( 12 tháng Giêng) người ta đã chuẩn bị tổ chức, phân công mọi việc ngay từ 12 tháng Chạp ( chạp làng) và sau đó, gần nhất là việc kiểm tra, phân công đôn đốc nhắc nhở ở ngày ăn xóm đầu năm (mồng 8 tháng Giêng).

Trước đây, hội làng mở từ ngày 11 đến  hết ngày 24 tháng Giêng. Về sau giảm dần, bây giờ hằng năm chỉ tổ chức 3 ngày,  chính tiệc là ngày 12 tháng Giêng.  Đây là chưa kể đến Hội chùa, Hội đền…

          Xa xưa, trong hội làng, việc rước long ngai (sau bằng tượng) thánh đã là một cảnh đẹp hiếm có được nhân dân xung quanh đến xem đông vui.

          Rước thánh thường là trong đêm. Dân làng cho rằng khi thánh hoá “trời đất tối tăm mù mịt, sấm sét ầm ầm” do đó không được rước ban ngày.

          Kiệu rước từ miếu về đình (ngày khai hội) và từ đình về miếu (ngày giã đám – kết thúc) được tiến hành từ chập tối, về đến miếu hay đình, tế an vị xong là vừa sáng, kịp lúc “mây đen tiêu tan, trời đất sáng sủa” như khi xưa ngài mới hoá xong.

          Ngày nay, tuy rước có sớm hơn, song phần lớn khi rước đến miếu hoặc đình cũng 8, 9 giờ tối. Những ngày rước đèn đuốc sáng chưng hai bên đường cái làng từ đình lên miếu. Khắp đường làng ngõ xóm nơi kiệu thánh đi qua đều có cổng chào (xóm ngõ) và lập ban thờ (từng cổng nhà) rất trang nghiêm. Dân làng bảo rước đêm vẫn hay và vẫn đẹp, ai ai cũng mong đến dịp này.

          Trước cách mạng tháng Tám, 4 giáp có 4 giá cỗ (Bốn giáp theo thứ tự nhất, nhì, ba, tư hay theo hướng  Đông, Tây, Nam, Bắc trên bốn sàn đình), còn bây giờ chỉ có giá cỗ chung của làng nhưng mỗi xóm lại có một bàn lễ riêng để tham gia vào đoàn rước muôn sắc muôn màu.

          Trong các tuần tế, khác với nhiều nơi, mục xướng “khởi chinh cổ” (đánh trống chiêng mở đầu) người ta không dùng, mặc nhiên chiêng trống vẫn cử hành. Các cụ bảo “chinh cổ” là việc quân, là chiến tranh([2]) nên từ  xưa làng vẫn không bao giờ nhắc tới.

          Trong hội làng, từ xa xưa, người Hạ Mỗ đều tổ chức nhiều trò chơi dân gian. Nhưng đặc sắc và thu hút người xem hơn cả vẫn là trò “đua thuyền, bắt vịt, nấu cơm thi” chạy quanh gò tròn trên ao đình Vạn Xuân. Đây là một di sản phi vật thể đặc sắc ở Hạ Mỗ cần được bảo lưu và phát huy.

           Hạ Mỗ có tục “đánh quân”[3] vào dịp tết Nguyên Đán và “cấm kỵ trai gái hai làng Hạ Mỗ – Thượng Mỗ lấy nhau”.

          Vào dịp tết Nguyên Đán (từ 27 tháng Chạp đến mồng 7 tháng Giêng), hai làng Hạ Mỗ  – Thượng Mỗ lại tổ chức “đánh quân”. Lúc đầu là trẻ con, sau kéo theo là người lớn.

          Ban đầu chỉ dùng đất rồi sau dùng cả gạch, thậm chí có thời kỳ đem  cả gậy gộc. Người ta cho rằng nếu không làm như thế thì trong năm hay bị cháy nhà, làm ăn trắc trở.

          Nhưng có điều đặc biệt là ai tham gia “đánh” cứ đánh, còn ai không tham gia thì cứ đi lại từ làng này sang làng kia,  miễn là không “dính” vào “trận” trên “bãi đánh quân”. Thậm chí người có tham gia vào “trận” nhưng không “chơi” nữa và thông báo cho phía bên kia biết lại có thể sang thăm bình thường. Tuy vậy, có năm hăng lên, quân của làng này kéo vào cả đầu làng kia gây ra tai hoạ. Từ 1957 tục đánh quân giữa hai làng Hạ Mỗ – Thượng Mỗ mới chấm dứt.

          Các cụ già còn kể, tục đánh quân xuất xứ từ luyện quân rồi sinh ra ném quân và đánh quân như sau này. Đó phải chăng là dấu tích của thời kỳ người Kẻ Mỗ là gia thần thủ túc của Lý Bát Lang và cuộc giao tranh giữa Lý Phật Tử  và Triệu Quang Phục(?!).

          Tục thứ hai, như lý dịch làng Hạ Mỗ trình phủ Hoài Đức năm 1938 ghi là “Sự trai gái không thay đổi  gì”. Đây là điều cấm kỵ mà từ xa xưa, trai gái hai làng không được lấy nhau bởi lời nguyền độc “Trai gái Thượng Mỗ, Hạ Mỗ lấy nhau nếu không tuyệt tự thì chết yểu”. Người ta vẫn chơi thân với nhau nhưng không nhà nào dám gả bán con cái cho nhau. Người xưa bảo: Hãy trông gương  Nhã Lang – Cảo Nương thì biết. Thế là hương ước chẳng ghi nhưng ai ai cũng đều theo răm rắp.

          Ba bốn chục năm lại đây trai gái hai làng Hạ Mỗ, Thượng Mỗ mới dám lấy nhau, không còn ai ngăn cản.

Bây giờ lễ hội truyền thống hàng năm vẫn mở chỉ có thời gian rút ngắn hơn, lễ lạt tiết kiệm hơn mà thôi.

Ngày giỗ Tổ Hùng Vương ( 10 – Ba), người Hạ Mỗ đã làm lễ ở đình, chùa, đền, miếu từ lâu. Năm sáu chục năm nay Hạ Mỗ tổ chức tế Tổ Hùng Vương trang trọng ở đình, cả làng ăn tết thay cho Tết mồng 3 tháng Ba.

Từ khi Hồ Chủ tịch mất, Hạ Mỗ còn tổ chức tế cụ Hồ ở đình và ăn Tết Độc Lập mồng 2 tháng 9 dương lịch.

Cho đến nay, trong bản sao ngọc phả tại đình còn ghi đầy đủ nòng văn của 30 bài văn tế từ đầu đến cuối năm ( 1. Chính đán văn, 2. Sóc vọng tế văn, 3. Chính nguyệt sơ thất nhật khai hạ văn, 4. Thập nhị nhật phụng nghinh tại miếu văn, 5. Bản nhật tại đình an vị văn, 6. Tác cụ cáo tế văn, 7. Nhập tịch các tiết lệ tế văn, 8. Tác cụ hoàn thành tạ tế văn, 9. Chủ tế văn, 10. Dự cáo hoàn cung văn, 11. Hoàn cung an vị văn, 12. Khánh hạ sắc văn, 13. Xuân tế văn, 14. Thiên quan tế văn, 15. Nhị nguyệt cầu phúc thập thất nhật dự cáo văn, 16. Thập bát nhật chính tế văn, 17. Tứ nguyệt thập ngũ nhật cức mã văn, 18. Thượng điền, hạ điền văn, 19. Tiên nông tế văn, 20. Trung Thu cáo văn, 21. Tống hoàng trùng văn, 22. Thường tân cáo văn, 23. Long thần tế văn, 24. Tống cựu văn, 25. Nghênh tân văn, 26. Xuân thu tiên hiền tế văn, 27. Tam nguyệt thập ngũ nhật Khoa Tràng tế văn, 28. Thượng thọ văn, 29. Gia tiên tế văn, 30. Ti hồng văn, mại đồng tử văn…). Còn ở đền Văn Hiến có Tô Vương đản, húy văn; đền Tri Chỉ có Hưng Đạo Đại Vương đản, húy văn; đền Chính Khí có Diêm La Phật Tử Đại Vương đản văn…

[1] “ Từ làng Hương Ngải huyện Thạch Thất đến làng Ước Lễ huyện Thanh Oai, từ làng Nhân Hiền huyện Thường Tín đến làng Hạ Mỗ huyện Đan Phượng đâu đâu cũng thấy đường làng ngõ xóm phong quang sạch đẹp, nhà ngói nhà gạch san sát liền kề, đặc biệt là con người đối xử với nhau bằng tình cảm chân tình thực sự. Khách đến thăm quê dù chỉ một lần cũng khó mà quên nổi, những thuần phong mỹ tục truyền thống ở những vùng quê ấy”. ( Xem “ Làng mỹ tục Hà Tây” – Sở Văn hóa – thông tin Hà Tây – 2000)

([2]) Chinh cổ : Chiêng và trống nghĩa bóng : chỉ việc quân.

[3] Bản chất tục đánh quân (từ tục tung đất) phản ánh một tín ngưỡng nguyên thủy trên cơ sở tư duy lưỡng hợp của người Việt cổ: Thiên địa giao hòa, âm dương hội tụ.

Nguyễn Tọa