NHÀ YÊU NƯỚC – SƯ CỤ THANH TRANG

Sư cụ Thanh Trang tên thật là Nguyễn Văn Trang, thường gọi là Nguyễn Trang, người Hải Dương[1], chưa biết năm sinh, đến tu và trụ trì chùa Hải Giác thuộc làng Hạ Mỗ, tổng Thượng Hội, huyện Từ Liêm phủ Hoài Đức tỉnh Hà Đông.

CHÙA HẢI GIÁCChùa Hải Giác – Làng Hạ Mỗ, xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội

Cụ tham gia Hội Thượng Chí từ năm 1895 do sư cụ Vương Quốc Chính (vốn là một nhà nho) trụ trì chùa Ngọc Long Động huyện Chương Mỹ sáng lập.

Đó là nơi quy tụ các nhà yêu nước từ Nghệ Tĩnh ra Bắc, nơi căn cứ xuất phát của những hoạt động chống phá chính quyền thực dân Pháp và phong kiến nhà Nguyễn vào những năm 1895 – 1898. Mục tiêu của tổ chức là đánh vào thành Hà Nội rồi sau đấy mở rộng ra. Tôn chỉ của Hội Thượng Chí là đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập cho đất nước và thiết lập chế độ quân chủ.

Trong cuộc nổi dậy đánh thành Hà Nội đêm mồng 5 rạng mồng 6 tháng 12 năm 1898, Hội Thượng Chí cử Vương Quốc Chính là quốc sư, tôn Lý Thiếu Quân làm minh chủ, đồng thời tổ chức ra 5 đạo quân để hành động trong lúc khởi nghĩa. Nguyễn Trang được cử làm Hữu quân chánh tướng kéo quân vào Hà Nội bằng con đường từ Thường Tín (Nam Định lên).

“Lịch sử cận đại Việt Nam” ghi: “Cuộc bạo động Hà Nội xảy ra đêm 5 – 12 – 1898. Tối hôm ấy nghĩa quân do Nguyễn Quang Hoan cầm đầu vào Hà Nội trà trộn với dân chúng đi xem hội chợ đông nghịt các hàng quán và đường phố. Trong khi đó, Nguyễn Văn Trang phục ở ngoại ô Bạch Mai, Đồ Mậu đã có mặt ở cầu Đơ, Đề Kiên, Lý Diễm, Đề Hoành ở Cầu Giấy tất cả đều sẵn sàng chờ lệnh. Cứ theo báo cáo của trung tướng Bi – sô lên cho toàn quyền Đu – me ngày 6 – 12 – 1898, một giờ đồng hồ trước khi súng nổ, Bi – sô đã được tin sắp có bạo động nên hắn đã lập tức ra lệnh đề phòng ở các trại lính, cơ quan, nhà đèn, nhà dây thép và cho quân đi tuần tiễu trong phố và quanh thành. Cho nên kết quả là đến giờ hành động, đèn không tắt, tiếng chiêng trống ra lệnh cũng không có.

Nghĩa quân của Diễm, Kiên, Hoành[2]  (quân Sơn Tây, Vĩnh Yên) nóng lòng xông vào thành đánh nhà quan ba Cát – xi – ê (Cassier), trong lúc đó thì các đạo quân khác không được hiệu lệnh lại rút lui. Cuộc bạo động cuối cùng thất bại…”

Ngày 27-12-1898, sau 20 ngày cuộc khởi nghĩa nổ ra, công sứ Đu – méc – gơ (Doumergue), tổng đốc Nguyễn Hữu Toản, án sát Nguyễn Văn Nhã xử chém bêu đầu 25 người tại Nam Định. Từ Nghệ An trở ra, nơi nơi đều có những phiên toà loại này.

Sư cụ Thích Thanh Trang bị thực dân Pháp bắt sau đó hèn hạ sát hại cụ tại gốc cây duối sau chùa Hải Giác ngày Rằm tháng Mười Một năm Kỷ Hợi (17 – 12 – 1899).

CÂY DUỐI

Cây Duối nơi Sư cụ Thanh Trang bị sát hại

Trong những ngày bị giam cầm, thực dân Pháp bằng mọi thủ đoạn dụ dỗ mua chuộc khảo tra hòng truy tìm truy bắt lực lượng kháng chiến ở địa phương nhưng không sao lung lạc được tinh thần và ý chí bất khuất của cụ. Cơ sở Hội Thượng Chí ở Hạ Mỗ được bảo toàn. Giặc Pháp không có chứng cứ để đàn áp phong trào đấu tranh của Phật tử và dân làng ở đây.

Để ghi nhớ công ơn, nhân dân Hạ Mỗ tạc tượng thờ cụ ở nhà Tổ, đặt di hài trong Trang Nghiêm bảo tháp, dựng bia căm thù và nhắc nhau lời niệm:

Gương xưa chống Pháp mãi còn

Cụ Sư Trang những héo hon tháng ngày.

Nương nhờ bóng Phật ăn chay,

Tìm đường cứu nước đánh Tây diệt thù.

Tiếc rằng chưa trọn lời thề,

Tiền đường Hải Giác “gọi về” sá chi.

Nam mô Đức Phật từ bi

Không chịu sống quỳ bè lũ ngoại xâm.

Nam mô Bồ Tát Quan Âm

Tốt đời đẹp đạo vì dân, vì đời.

NHÀ THỜ TỔ

Nhà thờ Tổ – nơi có tượng Sư cụ Thanh Trang

mộ

Bảo tháp – Chùa Hải Giác

Trong cuốn Monographie de Hà Đông – 1919 (Khảo cứu lịch sử và địa lý và lịch sử tỉnh Hà Đông – 1919) tài liệu do quan chức Pháp viết, lưu tại Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Hà Sơn Bình có đoạn: “Tháng 12 – 1898, một cuộc biểu tình đột ngột xảy ra ở ngoại ô thành phố Hà Nội có nhiều người dân huyện Đan Phượng và Từ Liêm dự do chánh tổng Kiên và Sư Trang xúi giục. Những kẻ phụ hoạ (comparse) đã bị bắt ngay và bị xử tử hình hoặc đi đày. Bắt hai thủ lĩnh Kiên và Trang thì khó hơn…”

Tinh thần chiến đấu hy sinh của Sư cụ Thanh Trang cùng các nghĩa quân đã để lại niềm tiếc thương và kính phục trong lòng Phật tử và nhân dân ta. “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” (Nhà xuất bản khoa học xã hội – Hà Nội – 1998) đã ghi: “Nhiều nhà sư ở cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX là những chiến sĩ yêu nước kiên cường. Họ là những người tổ chức nên nhiều cuộc nổi dậy, chống chính quyền thực dân phong kiến. Họ cũng bị bắt bớ, tra tấn, cầm tù và chém giết như những người yêu nước khác. Nhiều người trong số họ đã là chiến sĩ vô danh. Nhưng cũng có người tên tuổi còn lưu lại cho đến bây giờ…

… Đi liền với các nhà sư tiêu biểu là các cuộc vận động yêu nước, chống chính quyền thực dân phong kiến do nhà sư hay phật tử lãnh đạo… Một số cuộc vận động tiêu biểu đó là: cuộc mưu đánh vào Hà Nội năm 1898, cuộc khởi nghĩa ở Phú Yên năm 1898, cuộc tiến công vào Sài Gòn năm 1916…

Các cuộc khởi nghĩa trên xuất phát từ chùa chiền, gắn liền với chùa chiền, như vậy có làm sai các nguyên lý từ bi, bất sát vốn có của Phật giáo không? Đúng là khởi nghĩa thì có chém giết, có đổ máu, nhưng là để giành quyền sống, quyền làm người và theo đạo, quyền được thực hiện những điều vốn có của Phật giáo. Lúc bấy giờ không thể khác. Vì vậy chỉ có thể nói hành động khởi nghĩa ở họ là sự vận dụng các nguyên lý của nhà Phật “khuyến thiện, trừng ác” trong một hoàn cảnh đặc biệt, là sự phát triển các nguyên lý đó trong điều kiện chống sự thống trị của ngoại bang, bảo vệ đất nước, bảo vệ đạo và gắn đạo với đời.”

[1] – “Hữu quân Nguyễn Trang, sư cụ trụ trì chùa Hạ Mỗ gốc người Hải Dương” ( Lịch sử cận đại Việt Nam T2). NXBGD. Hà Nội 1961

[2] – Đồ Mậu, giáo học làng Mậu Hoà (nay là xã Minh Khai Hoài Đức)

            – Đề Kiên, chánh tổng làng Đăm (nay là phường Tây Tựu, quận Bắc Từ Liêm)

            – Lý Diễm tức lang Sáng làng Bồng Lai (nay là xã Hồng Hà – Đan Phượng)

            – Đề Hoành tức Võ Hoành làng Trung Hiệp – Sơn Tây (nay thuộc các xã Liên Hiệp, Tam Hiệp huyện Phúc Thọ)

TG. Nguyễn Tọa