Lịch sử văn hóa truyền thống làng Hạ Mỗ (kỳ 2)

II. HẠ MỖ TRONG QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ DÂN TỘC

  1. Khái quát chung

Cũng như các làng xã vùng châu thổ sông Hồng, nói rộng hơn là vùng Đồng bằng Bắc Bộ, Hạ Mỗ là một quần cư sớm xuất hiện.

Như đã trình bày trong phần “Những thay đổi về địa giới và hành chính”, Hạ Mỗ hay Ô Diên đều là những địa danh được xuất hiện rất sớm.

Trong quá trình hình thành và phát triển, người Hạ Mỗ – đất Ô Diên đã luôn Đồng hành trong cuộc đấu tranh của người Việt để tồn tại và phát triển.

Ngay từ thuở vua Hùng, nhà nước Văn Lang bóng dáng một vùng sông nước mênh mông, Hạ Mỗ hay Ô Diên là một bộ phận của bộ Chu Diên hay Giao Chỉ.

Những di tích khảo cổ học thời Hùng Vương thường rộng hàng nghìn mét vuông cho đến vài vạn mét vuông và tầng văn hóa khá rộng. Đó là những xóm làng định cư ít ra vào giai đoạn cuối thời Hùng Vương dựa trên cơ sở công xã nông thôn. Trong tiếng Việt, những công xã nông thôn mà sau này được gọi là làng (xã), nhưng trước đấy còn có những tên gọi Hạ

cổ hơn như Kẻ, Chạ, Chiềng. Tiếng Kẻ thường đi liền với tên Nôm của làng như Kẻ Ó thời cổ, Kẻ Mỗ hay Kẻ Mố sau này.

Tiếng Chạ còn để lại dấu ấn trong câu rao của seo mõ hay câu giáo đầu của hát Chèo “Chiềng làng, chiềng chạ…”.

Chạ hay tục kết chạ (kết nghĩa làng này với làng kia) ví như Hạ Mỗ – Thượng Mỗ [1], Hạ Mỗ – Tiên Tân [2] thời xưa.

Hạ Mỗ cùng bao làng khác vẫn tồn tại tự bao đời trong lịch sử các giai đoạn của làng xã từ thời nghìn năm chống Bắc thuộc.

Sau khi cướp nước ta, kẻ thù đã thủ tiêu chủ quyền quốc gia, xóa bỏ thể chế nhà nước của các Vua Hùng, Vua Thục. Nhưng suốt thời Bắc thuộc, nói đúng hơn là suốt thời gian chống Bắc thuộc chúng không thể nào với tay tới và can thiệp làm biến đổi được cơ cấu xóm làng cổ truyền của nhân dân ta.

Và khi thực dân Pháp xâm lược, xóm làng cổ truyền ở đây vẫn duy trì và giữ đúng cốt cách của người Hạ Mỗ – đất Ô Diên.

Dân làng Hạ Mỗ xưa nay vẫn tự hào về con người và mảnh đất quê hương của mình qua câu cửa miệng:

Làng chúng tôi Đế vương đất cũ,

Người chúng tôi Tể phụ ngày xưa.

Diên thành, Nhuệ thủy trơ trơ,

Người trung, trung tự thuở xưa đến giờ.

Người Hạ Mỗ – đất Ô Diên đã tồn tại và đã từng chứng kiến các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc trong suốt chiều dài lịch sử.

Những mốc son ấy được lưu truyền cho đến ngày nay, nhân dân làng Hạ Mỗ vẫn tự hào về mỗi giai đoạn lịch sử đó.

  1. Ô Diên thời Hai Bà Trưng

Theo “Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam” thì sau khi đánh đổ chính quyền đô hộ, Bà Trưng Trắc được suy tôn làm Quốc Vương, tức là Trưng Vương. Đóng đô ở Mê Linh”.

Đại Nam quốc sử diễn ca cũng viết:

Đô Kỳ đóng cõi Mê Linh,

Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta.

Nhưng trong “Lĩnh Nam chích quái” [3] ghi “ thời ấy, Tô Định ở Giao Châu rất tham bạo, nhân dân rất khổ sở. Trắc thù Định giết chồng mình, bèn cùng em là Nhị dấy binh đánh Định, vây hãm Giao Châu, các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, hai chị em bèn bình định được 65 thành ở Lĩnh Ngoại (có sách ghi: Giành được của Định 56 thành ở Lĩnh Nam) tự lập làm vua, mới xưng là Trưng, đóng đô ở thành Ô Diên”.

Còn “Việt điện u linh” lại ghi khác. Trong mục “Chế thắng nhị Trưng phu nhân” [4] viết “xét sử ký: Bà chị tên là Trắc, bà em tên là Nhị nguyên họ Lạc, con gái quan Lạc tướng ở Giao Châu. Bà chị lấy ông Thi Sách, người huyện Chu Diên, có sức khỏe và rất khí khái. Thời ấy nước ta bị nhà Hán đô hộ, thứ sử Giao Châu là Tô Định sợ ông có chí khác, mới tìm cách hãm hại ông. Bà Trắc căm giận liền cùng em cất quân đánh đuổi Tô Định chiếm giữ Giao Châu, các quận Nhật Nam, Hợp Phố, Cửu Chân nghe tin đều hưởng ứng cả. Hai bà dẹp yên hơn 60 thành ở Lĩnh Ngoại, rồi tự lập làm Việt Vương đống đô ở Chu Diên và đổi họ là Trưng (năm 40 sau công nguyên)”.

Theo Ngọc phả các làng Hát Môn (Phúc Thọ), làng Hạ Lôi (huyện Mê Linh), làng Cư An (huyện Mê Linh) cả ba bản thần tích đều do Hàn Lâm viện Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn, năm Hồng Phúc thứ nhất (1572) đời vua Lê Anh Tông.

Ngọc phả làng Hát Môn ghi: “ Trưng Nữ Vương lấy lại ngoài 60 thành, thu phục cõi bờ. Từ đó Nam Bang thống nhất. Trăm quan đón xa giá Trưng Nữ Vương vào thành Chu Diên, bà lên ngôi vua, xưng là Trưng Vương, phong em là Phó Vương. Từ đó đất nước thanh bình. Trưng Vương lập đô tại Mê Linh ( sau là Hạ Lôi, Yên Lãng) đổi ra họ Trưng. Đặt quốc hiệu là Triệu, lấy Cổ Lai làm ấp thang mộc, sửa hành cung, phong hầu cho trăm họ chốn cỏ rậm thành triều đình…” [5]

Ngọc phả làng Hạ Lôi ghi: “…Năm Trắc Nương 19 tuổi gả về Chu Diên huyện lệnh Thi Sách”… “Trưng Nữ Vương cử binh tiến về huyện Chu Diên thuộc phủ Tam Đới. Thời gian đó Tô Định xây thành Chu Diên”… “Trưng Nữ Vương lấy lại ngoài 60 thành, thu phục bờ cõi. Từ đó Nam Bang thống nhất. Trăm quan đón xa giá Trưng Nữ Vương vào thành Chu Diên, bà lên ngôi vua và xưng là Trưng Vương, phong em là Phó Vương. Từ đó đất nước thanh bình. Trưng Vương lập đô thành tại đất Phấn Lộ, huyện Chu Diên” [6]

Ngọc phả làng Cư An (xã Tam Hồng, Mê Linh) thờ Trưng Nhị, tóm tắt có đoạn ghi: “ Trắc và Nhị là hai chị em sinh đôi con gái lạc tướng. Chị lấy huyện lệnh Ô Diên là Thi Sách. Em lập bản doanh ở trang Cự Triền (nay là Cư An) thuộc huyện Ô Diên, phủ Tam Đới, đạo Sơn Tây.

…Khi đánh đuổi được quân Hán, Trưng Trắc lên ngôi vua, phong em là Bình Khôi công chúa. Bà này xin lui về Cự Triền mở mang đất đai lập nên thành đô Trưng Vương dời đô về đóng ở đó” [7]

Như vậy, từ các sách sử đến Ngọc phả, thần tích đều có hiện tượng không thống nhất khi ghi “đô thành” của Hai Bà Trưng.

“ Truyện hai bà Trinh Linh phu nhân họ Trưng” trong “Lĩnh Nam chích quái” đến “Cư An xã thần tích”, Ô Diên được coi là đô thành thời Trưng Nữ Vương dẫu không đúng với sự thực được ghi trong chính sử thì đó cũng phản ánh được thực thể các tác giả đã nhầm lẫn vị trí Ô Diên trên bãi Trường Sa, những ngày đầu Hai bà mở “đại hội”, lập đàn kỳ đảo thiên địa bách thần ở đây thuở trước.

Ngày xưa, trên ngã ba sông, từ đầu nguồn sông Nhuệ qua bãi Trường sa là đã đến đầu nguồn sông Đáy ( tức sông Hát).

“Hát Môn, cứ theo tên gọi thì là “cửa sông Hát”. Nhưng thực tế ngày nay thì không là như vậy. Từ đấy tới cửa sông Hát (chỗ sông Hát tách từ sông Hồng ra) còn cách cả một xã Vân Nam, song xã này, cũng như xã Vân Phúc láng giềng  chỉ mới có từ đời Lê. Vì theo lời truyền khẩu từ xưa – được ghi lại trong khoán ước – thì khu vực hai xã này chính là một cụm gồm 6 làng: Vĩnh Phúc, Vĩnh Thọ, Vĩnh Khang, Vĩnh Ninh, Vĩnh Thuận và Vĩnh Lộc. Sáu làng này nguyên là trang Vân Thủy ở bên tả ngạn sông Hồng thuộc đất huyện Yên Lạc. Đời Lê, do đất bị lở nên cả trang dời sang sinh sống bên hữu ngạn, cư trú trên vùng bãi mới bồi và biệt lập thành sáu làng có gốc Vĩnh như hiện nay.

Như thế, trước thời Lê, chỗ các xã Vân Nam, Vân Phúc còn là dòng sông. Vậy Hát Môn phải ở cạnh sông Hồng và là chỗ sông Hát tách từ sông mẹ ra. “…Hát Môn vào thời đầu công nguyên tất phải là cửa sông…”. [8]

Từ Hạ Mỗ đến Vân Nam, Vân Phúc, hay Hát Môn, qua các xã Thọ Xuân, Thọ An, Trung Châu. Ba xã này mới lập trên dưới 200 năm nay.[9]

Xã Trung Châu nằm trên vùng bãi bồi bên hữu ngạn sông Hồng. Trong các làng của Trung Châu chỉ có Phương Lương Nội, Phương Lương Ngoại thuộc tổng La Thạch cũ có trước thời Nguyễn. Còn lại phần lớn các làng khác là ở địa phương xung quanh chuyển tới. [10]

Xã Thọ An nằm ở giao điểm giữa triền đê tả ngạn sông Đáy và con đê hữu ngạn sông Hồng tại phía Bắc huyện Đan Phượng. Xưa cả vùng này là bãi bồi sông Đáy, sông Nhuệ. Trải qua 5, 6 đời, lớp người đi trước đến đây khai phá bờ bãi dựng làng lập nghiệp. Đó là những người làng Thanh Khô, Thọ Lão thuộc tổng Thọ Lão bên tả ngạn sông Hồng chuyển sang khai phá đất đai, xây dựng xóm làng.

Xã Thọ Xuân ngày nay nằm trên vùng bãi bồi hữu ngạn sông Hồng xưa, đây là cửa sông Đáy. Do quá trình lắng đọng phù sa sông Hồng, vùng đất này trở nên màu mỡ. Từ các làng Thọ Lão, An Lão, Thanh Khô thuộc tổng Thọ Lão bên tả ngạn sông Hồng sang sinh cơ lập nghiệp mang theo tên làng cũ như Thọ Lão, Thanh Điềm…

Trên khu vực thành Ô Diên xưa, dân làng Hạ Mỗ, Thượng Mỗ cũng mới chuyển từ trong Đồng sang và bà con người làng Già Mét bên kia sông sang sinh sống cũng chỉ mới trên dưới 200 năm.

Như vậy, toàn bộ khu vực đất xưa nằm giữa sông Hát và sông Nhuệ, lúc đó gọi là bãi cát dài (Trường Sa) nay đã phủ kín màu xanh của xóm làng, ruộng Đồng, bờ bãi.

Phải chăng những năm đầu công nguyên, ngã ba sông ở đây đã tạo nên một điểm tụ hội lớn chính là đất Ô Diên. Và theo sự hình thành của xóm làng mới, cửa sông Hát không cách cửa sông Nhuệ là bao. Việc sử sách ghi chép cũng như truyền thuyết dân gian chỉ tập trung đến địa điểm sông Hát chứ không nhắc đến khu đất cửa sông Nhuệ để dành cho sự kiện về sau ở thế kỷ 6 chăng ?

Đất Ô Diên hay trước đó là Ô Hử mà sau này có thành Ô Diên cũng đã đóng góp vào công cuộc buổi đầu của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng nên một số truyện, thần tích đã ghi Ô Diên cũng là đô thành của Trưng Nữ Vương.

Trên đất huyện Đan Phượng và Từ Liêm xưa, trong cuộc kháng chiến chống giặc Đông Hán dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng, nhiều nghĩa quân là người địa phương, có người đã trở thành tướng lĩnh, có công lớn đã được Hai Bà Trưng trọng thưởng, trọng dụng như nữ tướng Vĩnh Gia, Quách Lãng và hai em là Đinh Bạch Nương – Đinh Tĩnh Nương ở Thượng Cát, Đại Cát, Sa Lãng ở Hạ Trì, Hải Diệu ở Cổ Ngõa, Lôi Chấn ở Tháp Thượng đều là các địa phương ở ven sông Hồng và sông Đáy [11]

Tất cả nghĩa quân do các tướng lĩnh này đều phải qua đất Hạ Mỗ, Thượng Mỗ (khu vực Ô Diên) để đến dự “Hội thề” ở Hát Môn thuở ấy. Đến nay chưa có tư liệu nào ghi chép về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng diễn ra trên đất Ô Diên, và cũng chưa có cơ sở để khẳng định Ô Diên thành có phải là một địa điểm hội quân ngay từ đầu của cuộc khởi nghĩa. Nhưng từ địa hình, địa giới đất Ô Diên ngày ấy cùng lễ Hội hát Chèo tàu tượng [12] ở các làng xã Tân Hội huyện Đan phượng đã gợi cho người đời sau về kỷ niệm của quê hương trong đó có đất Ô Diên thành cổ những năm đầu công nguyên thời Trưng Nữ Vương.

  1. Ô Diên thời Hậu Lý Nam Đế, thế kỷ thứ VI

“Đại Việt sử ký toàn thư” [13] chép thời Hậu Lý Nam Đế có ghi: “Vua họ Lý, húy là Phật Tử là tướng người họ của Lý Nam Đế, đuổi Triệu Việt Vương nối vị hiệu của Nam Đế, đóng đô ở thành Ô Diên, sau dời sang Phong Châu”.

“Nhâm Tuất, năm thứ 32 (602) (Tùy Văn Đế Dương Kiên, Nhân Thọ năm thứ nhất). Vua sai con của anh là Đại Quyền giữ thành Long Biên, biệt súy Phổ Đỉnh giữ thành Ô Diên (bấy giờ vua thiên đô sang Phong Châu). [14]

Trong mục “Dòng chính thống các đế vương Việt Nam” phần nhân vật chí của bộ “Lịch triều hiến chương loại chí” nhà bách khoa danh nhân Việt Nam Phan Huy Chú có chép: Hậu Nam Đế, tên là Phật Tử, là tướng và là người họ của Tiền Nam Đế lúc đầu cùng ở với Đào Lang Vương ở động Dã Năng. Đào Lang Vương chết, mọi người tôn lên nối ngôi thống lĩnh các quân chống với Triệu Việt Vương. Sau hai bên giảng hòa và xin thề chia địa giới ở bãi Quân Thần rồi làm thông gia với nhau. Chưa được bao lâu con là Nhã Lang về, Phật Tử mới cất binh diệt được họ Triệu, vẫn xưng là Nam Đế đóng đô ở Ô Diên, rồi dời ra Phong Châu …” [15]. Như vậy, với sự hiện diện của Lý Phật Tử tại thành Ô Diên có hai thời kỳ trước và sau khi đánh bại Việt Vương Triệu Quang Phục. Ở đây có khu tưởng niệm là đền Chính Khí.

Thời kỳ thứ nhất, chưa xác định được trước khi Lý Phật Tử về chiếm giữ xây dựng thành trì Ô Diên lúc đó là thành quách, là Đồn binh hay không. Và lúc đó ai là người chỉ huy ở đây. Chỉ biết rằng: “Năm 557, Lý Phật Tử về quê cũ ở Thái Bình rồi lôi kéo họ hàng, phe cánh và dư chúng cũ gây chiến với Việt Vương Triệu Quang Phục. Sau một thời gian đánh nhau, năm lần giáp chiến, bất phân thắng phụ, hai phe Triệu – Lý đã giảng hòa và chia nhau địa giới ở bãi Quân Thần ( vùng Thượng Cát, Hạ Cát thuộc Từ Liêm – Hà Nội), cùng kết mối thông gia: Con trai Lý ( Nhã Lang) lấy con gái Triệu (Cảo Nương). Lý đóng ở Ô Diên, Triệu đóng ở Long Biên” [16].

Để rồi “ năm 571, Lý Phật Tử đánh úp Triệu Việt Vương, đoạt toàn bộ quyền hành và đất đai”. [17]

Như vậy, Lý Phật Tử đã ở đất Ô Diên ít nhất là 16 năm (555-571) trước khi thu phục giang sơn trị vì cả nước.

Và cũng vì vậy, sau khi thôn tính được Triệu Việt Vương, Lý Phật Tử còn ở thành Ô Diên, coi đó là kinh đô trước khi dời lên Phong Châu (hay Cổ Loa).

Thời kỳ thứ hai, sau khi Lý Phật Tử dời khỏi thành Ô Diên lên kinh đô mới, thì ở đây chỉ còn là một Đồn binh trấn giữ vùng ngã ba sông trọng yếu này. Và đến đầu năm 602 đến lượt người Lý Súy ở Giao Châu là Lý Phật Tử bị gọi vào triều. Vào chầu, là một biểu tượng của sự thần phục, một hành động đầu hàng. Và Lý Phật Tử đã hiên ngang chống lại lệnh của vua Tùy. Nhà Tùy quyết định cất quân sang xâm lược chinh phục nước ta. Nam Đế Lý Phật Tử triển khai bố trí quân đội để chống lại xâm lược. Quân sĩ Vạn Xuân được chia ra đóng giữ ở 3 tòa thành, hình thành 3 cụm phòng ngự ở Đồng bằng châu thổ sông Hồng.

– Lý Đại Quyền (con người anh Phật Tử) đem đại quân trấn giữ thành Long Biên (Bắc Ninh cũ).

– Biệt súy Lý Phổ Đỉnh [18] chỉ huy quân giữ thành Ô Diên (Hạ Mỗ, Đan Phượng, ngoại thành Hà Nội).

– Lý Phật Tử thân thống suất đại quân tổ chức phòng ngự tại “thành cũ của Việt Vương”, tức thành Cổ Loa. [19]

Lịch sử không ghi chép về cuộc kháng chiến chống quân Tùy đã diễn ra trên mảnh đất Ô Diên này. Song, về cục diện cuộc chiến tranh cũng cho thấy được sự quyết liệt và cũng như sự cáo chung của nhà Hậu Lý trên toàn cõi cũng như ở ngôi thành Ô Diên. Những “kỳ dịch Tràng An” cùng những câu cửa miệng “đất lắm ma, chẳng ma nào dám ở” cũng nói lên điều đó.

“Cuộc chiến xảy ra ác liệt, song kẻ địch đông quân, tiến nhanh, đánh gấp nên ta đã thất bại. Lưu Phương nhanh chóng thúc quân tiến vây đô thành Cổ Loa, lớp trong, lớp ngoài trùng điệp. Kết hợp dùng binh uy hiếp và dùng thủ đoạn chính trị dụ dỗ, đe dọa, mua chuộc, Lưu Phương đã buộc Lý Phật Tử đầu hàng.

Lý Phật Tử bị bắt đưa về Trường An. Những tướng lĩnh kiệt hiệt khác của Lý Phật Tử tiếp tục cự địch ở các nơi, nhưng trước sau bị Lưu Phương giết hại cả”. [20] Đất nước ta rơi vào ách thống trị nhà Tùy. Nước Vạn Xuân vừa thoát khỏi cuộc chiến tranh xâm lược của nhà Lương lại diễn ra cuộc nội chiến kéo dài giữa các thế lực trong nước. Tình trạng đó làm cho thế nước suy yếu. Nam Đế Lý Phật Tử lãnh đạo kháng chiến chưa có đủ uy tín để tập hợp lực lượng, không phát huy được sức mạnh của cả dân tộc để chống xâm lược.

Đế chế Tùy đã kiểm soát  được toàn Trung Quốc, trong cuộc chiến này, nhà Tùy đã huy động một lực lượng chinh phục rất lớn. Lưu Phương là một viên tướng có nhiều mưu lược, quỷ quyệt. Quân Tùy kéo binh ồ ạt đánh thẳng vào Quốc đô Cổ Loa. Lý Phật Tử áp dụng chiến lược phòng ngự, tập trung quân chống giữ ở ba thành lũy lớn. Quân số chưa nhiều, lực lượng mới dựng, sức cố kết dân tộc chưa cao. Kẻ thù có điều kiện nhanh chóng tiến vào trung tâm nước ta và tập trung lực lượng lớn đánh mạnh vào căn cứ cố thủ của Lý Phật Tử. Khi kinh thành và những vị trí phòng thủ lớn bị lọt vào tay giặc thì những lực lượng kháng chiến địa phương cũng nhanh chóng bị quân xâm lược Tùy đàn áp.

Đó là lý do thất bại của Nam Đế Lý Phật Tử trong cuộc chiến tranh chống xâm lược của nhà Tùy” [21].

Từ đây, Ô Diên thành cổ tuy chỉ còn trong hoài niệm của dân chúng, ký ức một thời của một Quốc đô thời Nhà nước Vạn Xuân còn lại trong dân gian mà thôi. Đây cũng là những tư liệu cần thiết để bổ sung thậm chí đính chính cho sử sách xưa nay [22].

Những phong tục tập quán, những tích diễn dân gian còn lưu truyền cho đến tận ngày nay cũng là những tư liệu quý để nghiên cứu và xác định về chứng tích của một di sản vật thể còn lưu lại và bảo tồn qua di sản phi vật thể là tấm gương phản chiếu mãi mãi trường tồn.

[1] – Nguồn gốc của trai gái hai làng không được lấy nhau bởi tục kết chạ: Chạ anh, chạ em là một nhà, anh em trong một nhà không được lấy nhau.

[2] – “lên làng” hay “xuống làng” đó là cách xưng hô rất thân thiết của tục kết chạ ( như lên chạ, xuống chạ).

[3] – Nhà xuất bản Văn học – Hà Nội – 1990, trang 71.

[4] – Dẫn theo “Tổng tập văn học dân gian người Việt – Tập 4 – Truyền thuyết dân gian người Việt”. NXB – KHXH –  Hà Nội – 2004.

[5] – Dẫn theo “Tổng tập văn học dân gian người Việt”. Sách đã dẫn.

[6] – Theo “Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội”, của Nguyễn Vinh Phúc – NXB Hà Nội – 1983.

[7] – Theo “Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội”, của Nguyễn Vinh Phúc – NXB Hà Nội – 1983.

[8] – “Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng”. Sách đã dẫn.

[9] – Thuộc huyện Đan Phượng. Đầu thế kỷ 19, các làng thuộc ba xã này chưa có trong danh mục thuộc các làng xã huyện Đan Phượng.

[10] – Các làng ở xã Trung Châu có gốc ở làng khác như:

      + Chu Phan: Gốc ở Chu Phan huyện Mê Linh.

      + Hưu Trưng: Gốc ở Vân Nam huyện Phúc Thọ.

      + Nại Yên (Nại Sa + Yên Châu): Nại Sa gốc ở Sa Khúc huyện Mê Linh.

      + Trung Hà Làng: Gốc ở Tiến Thịnh huyện Mê Linh.

      + Trung Hà Trại: Gốc ở Tiến Thịnh huyện Mê Linh.

      + Vân Môn: Gốc ở Hát Môn huyện Phúc Thọ.

      + Phương Lương Nội, Phương Lương Ngoại có gốc ở trên Sơn Tây, sau đất lở xin chuyển về đây.

      + Vạn Vỹ: ngư dân ở làng chài.

[11] – Xem “Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng”. Sách đã dẫn.

[12] – Đứng trên thuyền rồng (tức là tàu) và Voi (tức là tượng). Tàu và tượng làm bằng tre gỗ, phết giấy, hát theo những làn điệu dân ca trong đó có những làn điệu riêng của địa phương. Nhân dân ở đây cho rằng ngày xưa khi đánh quân Đông Hán, Hai Bà đã kéo quân qua đây. Voi đi nườm nượp trên bộ, thuyền bè tấp nập dưới sông Nhuệ, sông Hồng… Hội hát Chèo tàu tượng là để tưởng niệm cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ?!.

[13] – Đại Việt sử ký toàn thư – Tập 1 – NXB KHXH Hà Nội. 1972.

[14] – Theo “Tùy thư – Quyển 53, Lưu Phương truyện, chép rằng Lý Phật Tử đóng ở thành cũ của Việt Vương, tức Loa thành” (chú thích của Đại Việt sử ký toàn thư).

[15] – Theo Hồ sơ lý lịch di tích lịch sử nghệ thuật đình Mai Dịch, thị trấn Mai Dịch – Cầu Giấy – Hà Nội.

[16] – “Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam” (từ đầu đến giữa thế kỷ 19).

[17] – “Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam” (từ đầu đến giữa thế kỷ 19).

[18] – Theo tờ trình của hào lý làng Hạ Mỗ (1938) Hạ Mỗ còn phối thờ Lý Phổ Đỉnh cùng Lý Bát Lang.

[19] – Lịch sử Việt Nam – Tập 1 – NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội. 1985 – trang 296.

[20] – Theo Tùy Thư quyển 53.

[21] – “Lịch sử Việt Nam – Tập 1 – NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội. 1985.

[22] – “Sử sách Trung Hoa không hề ghi chép về Triệu Quang Phục. Sách xưa nhất chép về Triệu Quang Phục là Việt điện u linh…Đại Việt sử ký toàn thư (ngoại kỷ q IV) nói sử cũ không chép Triệu Việt Vương và Đào Lang Vương, nay nhặt trong dã sử và sách khác bắt đầu chép vị Triệu Việt Vương và phụ chép Đào Lang Vương để bổ sung …” (Dẫn theo lịch sử Việt Nam, T1. NXB ĐH và THCN).