Lịch sử văn hóa truyền thống làng Hạ Mỗ (kỳ 1)

PHẦN THỨ NHẤT

HẠ MỖ TRONG QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ DÂN TỘC

 KHÁI QUÁT VỀ MẢNH ĐẤT VÀ CON NGƯỜI HẠ MỖ

  1. Điều kiện tự nhiên

a, Vị trí địa lý

Hạ Mỗ là một trong hai làng của xã Hạ Mỗ hiện nay nằm ở phía Đông Bắc huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Phía Bắc giáp 2 xã Hồng Hà và Liên Hồng, phía Đông giáp 2 xã Liên Hà, Tân Hội và làng Trúng Đích cùng xã, phía Tây giáp 2 xã Thượng Mỗ và Trung Châu, phía Nam giáp 2 xã Thượng Mỗ và Tân Hội. So với vị trí ghi trong “Hạ Mỗ xã địa bạ” – (Gia Long thứ 4-  1805) về cơ bản không thay đổi.

Hạ Mỗ là một vùng đất cổ, nơi “Sơn cùng Thủy tận” tại châu thổ Ô Diên U xứ [1] đã có từ giai đoạn Phùng Nguyên cách ngày nay vào khoảng 3.500 năm đến 4.000 năm (Theo kết quả của khảo cổ học tại các di chỉ Bá Nội – Hồng Hà và Kim Ngọc – Tân Lập).

Hạ Mỗ ngày nay chính là đất Ô Diên thuở trước. Đó là một trong ba vùng đất từ xưa vẫn đứng nguyên vẹn, mặc cho sông Hồng đổi dòng, chuyển bãi. Dân gian có câu: “Miếu Đinh Nguyên, Ô Diên thành, ghềnh Nguyệt Lão” để chỉ về 3 địa danh đó [2].

Khi xưa chưa có đê, trại Hạ Mỗ là bờ non, bãi nổi, sông nước mênh mông trên ngã ba sông Hồng, sông Nhuệ và sông Đáy. Nằm trên ngã ba sông lại hẻo lánh, đó là “châu thổ Ô Diên U xứ” [3].

Năm 40 đầu Công nguyên, Hai Bà Trưng đã hội quân trên bãi Trường Sa (bãi cát dài) lập đàn thề tế cáo Thiên Địa trước lúc xuất quân đánh giặc Đông Hán.

Lúc bấy giờ, cửa Hàm Rồng là đầu mối chuyển nước từ sông Hồng vào sông Nhuệ tấp nập trên bến dưới thuyền. Địa danh Gò Vạn là dấu tích của ngư dân thuở trước.

Truyền thuyết còn kể lại rằng: Vào đời Hùng Vương thứ 18 ở vùng Sơn Nam có người họ Trương, gia đình làm nghề đánh cá, thường làm việc thiện. Một hôm vợ chồng đi đánh cá tại con sông gần trang Hạ Mỗ tình cờ bắt được 30 thỏi vàng rồi trở nên giàu có [4].

Phía trong Đồng khi chưa có đê, nước sông chảy dềnh lên tràn vào các ô trũng trên vùng đất mấp mô nơi gò đống, nơi sình lầy thậm chí còn sâu và khúc khuỷu như ghềnh Đầm Mát [5].

Truyền thuyết kể lại rằng: xa xưa khi mùa nước lũ tràn về, dòng nước hung dữ cuốn trôi theo cả nhà cửa, đất đá từ trên ngược về. Tại khu Gò Vớt, dân ta đã lấy được cây cối, cả cối đá trong đó có một pho tượng đá. Về sau dân thấy thiêng đã xây am thờ. Đó là pho tượng đá trắng tạc người phụ nữ trong trang phục của tầng lớp trên như một công chúa trong tư thế ngồi thiền (kiểu kiết già). Nhác trông như người ngồi nhìn gan bàn chân nên các cụ gọi là “Bà Nhỉa Gai”, và từ đó khu đất này có tên là khu (hay xứ) Bà Nhỉa Gai.

Hạ Mỗ cùng các làng của huyện Đan Phượng nói riêng, tỉnh Hà Tây trước đây nói chung nằm ở rìa phía tây Đồng bằng Bắc Bộ, bên hữu ngạn sông Hồng (xưa gọi là sông Cái hay Đại Hà) có độ nghiêng dốc theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và Tây Nam – Đông Bắc.

Qua quá trình lao động, cải biến, chinh phục thiên nhiên, nhân dân ta đã kề vai sát cánh cùng nhau cải tạo, san lấp và xây dựng nên những cánh Đồng bằng phẳng mầu mỡ như ngày nay.

Tuy nhiên, qua chuyển hóa tự nhiên cũng như quá trình cải tạo san lấp không Đồng đều, các cánh Đồng vẫn còn nhiều thang bậc khác nhau. Vùng đất thuộc châu thổ Ô Diên vẫn là nơi cao nhất trong khu vực với cốt đất 13,8 m ( độ cao so với mặt nước biển là 13,8 m) [6].

Theo Từ điển Bách khoa đất nước và con người Việt Nam (Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa – 2011), huyện Đan Phượng – địa hình Đồng bằng châu thổ cao trung bình từ 6 đến 8 m.

Đứng trên địa thế cao đất đai Hạ Mỗ có điều kiện thuận lợi trong việc chống lũ lụt, nhất là tiêu úng nhanh. Nhưng ngược lại, nó cũng đã phải chịu đựng hậu quả trong những năm hạn hán kéo dài. Khi xưa thủy lợi chưa phát triển, nhiều cánh Đồng chỉ cấy được 1 vụ. Và ngay trên mảnh đất ấy nhiều phen đã phải bỏ trắng hoàn toàn. Các cụ đã đặt tên cho nó là khu Cháy Điền (Cháy Điền xứ), sau này nói chạnh là Trái Điền hay Cháy Đèn [7].

Những địa danh ngày nay còn lại đã minh chứng cho thế núi, hình sông của quê ta thuở trước. Văn Hiến đường bi ký mở đầu có đoạn: “Núi ở phía Đông (thành) Ô Diên, phía Nam (miếu) Hàm Rồng, bao quanh phía Tây Bắc làng là núi Kim Tinh vậy”. Khu Mả Từa (Hạ Mỗ xã địa bạ ghi là Mả Từ xứ) là khu Đồi giáp châu thổ Ô Diên kéo dài tới tận núi Kim Sơn nằm trên đất đền Văn Hiến ngày nay.  Các cụ bảo “ lù lù như mả ông Từa – tức Từ Đạo Hạnh [8]– là vì vậy”.

Nếu phía Tây Bắc có Mả Từa (hay Mả Từ), phía Tây Nam có xứ Cháy Điền (hay Cháy Đèn), cao bao nhiêu thì ở phía Đông Bắc có xứ Buộm. Hạ Mỗ xã địa bạ ghi là Phàm xứ. Phàm chữ Hán nghĩa là Buồm (cột buồm trên thuyền) dân ta đọc chạnh là Buộm. Ngoài ra ở phía Đông Bắc Đồng làng còn có xứ Bán Lòng (nửa lòng sông) vì giáp phía làng Bá nên dân ta gọi là khu Bá Lòng. Đặc biệt là khu Mả Đọ, đọc chạnh từ Độ (độ là bến đò), ghềnh Đầm Mát là khu đất sâu trũng hơn cả.

b, Về địa chất, thổ nhưỡng

Đất Hạ Mỗ được hình thành và bồi đắp do quá trình bồi tụ phù sa của sông Hồng, sông Nhuệ do đó dù ở độ cao hay thấp đều phì nhiêu, mầu mỡ, cấy lúa, trồng màu đâu đâu cũng thuận.

Là một trong những làng có diện tích lớn nhất của huyện Từ Liêm (theo Nông thôn Việt Nam trong lịch sử – tập 1 – Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội – 1977), ghi trong “Hạ Mỗ xã địa bạ – 1805” là 1.370 mẫu, 6 sào, 13 thước.  Trong số đó ruộng tư điền có 801 mẫu, 3 sào, 12 thước (chiếm 58% tổng diện tích) được chia làm 3 loại đất. Ruộng loại 1 (nhất đẳng điền) 80 mẫu, chiếm tỷ lệ 10%; ruộng loại 2 (nhị đẳng điền) 162 mẫu, chiếm tỷ lệ 20% và ruộng loại 3 (tam đẳng điền) có 560 mẫu, chiếm tỉ lệ 70%.

Về sau, trong quá trình cải tạo đất thâm canh mùa vụ, người Hạ Mỗ đã sớm kết hợp trồng trọt và chăn nuôi. Kỹ thuật làm phân bón đã phát triển đến trình độ cao. Phân chuồng, phân xanh đều được đánh giá vào loại tốt trong vùng. Đặc biệt việc sử dụng lá Xoan dầm ruộng vụ mùa đã cho năng suất cao và giữ được độ phì nhiêu cho đất được lâu dài. Chất đất cũng từ đó ngày càng tăng độ phì nhiêu một cách bền vững.

          Vào những năm cuối thế kỷ XX,  cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và thủy lợi hóa, người Hạ Mỗ đã vận dụng sáng tạo trong việc thay đổi giống cây trồng, Đồng thời đẩy mạnh tăng năng suất, sản xuất lúa màu ngày một tăng lên cả về năng suất và sản lượng.

Năm 1965 năng suất lúa của Hạ Mỗ đạt 50 tạ/ha, năm 1967 đã tăng lên 67 tạ/ha góp phần cùng cả huyện Đan Phượng trở thành quê hương 5 tấn.Trên đà tăng trưởng, năng suất lúa ở Hạ Mỗ không ngừng nâng cao năm 1970 đạt 76 tạ/ha thì đến năm 1995 đạt 110 tạ/ha và đến năm 2011 đã đạt 133 tạ/ha.

Nhìn chung đất đai Hạ Mỗ vốn được thiên nhiên ưu đãi, lại được con người cần cù lao động tiếp thu và vận dụng khoa học kỹ thuật nông nghiệp một cách sáng tạo đã làm cho đất đai ngày thêm màu mỡ.

c, Về khí hậu

Khí hậu ở Hạ Mỗ cùng mang nét đặc trưng của khí hậu Đồng bằng Bắc Bộ. Tuy gọi là 4 mùa xuân, hạ, thu, đông song thực ra chỉ có hai mùa rõ rệt là:

– Mùa mưa (ướt, ẩm từ tháng 5 đến tháng 10 âm lịch),

– Mùa khô ráo (khô, hanh, mát mẻ từ tháng Một đến tháng 4 năm sau).

Đây là tính chất chung, nhưng nhiều khi thời tiết thay đổi, mưa bão, nắng hạn thất thường. Nhất là những năm gần đây khí hậu trên trái đất thay đổi, thời tiết diễn biến cực đoan gây nhiều thiệt hại cho sản xuất và đời sống con người

d, Về thủy văn

Hạ Mỗ là đất thuộc châu thổ Ô Diên nằm ở ngã ba Hát thuộc hệ thống sông Hồng, đó là sông Hồng, sông Nhuệ (còn gọi là sông Từ Liêm) và sông Đáy (còn gọi là sông Hát).

Nằm dưới ngã ba Hạc, vùng Tam giang, nơi gặp gỡ của ba con sông lớn sông Thao, sông Đà và sông Lô. Do đó những mùa lũ lớn, nước lên cao uy hiếp đến đời sống nhân dân vùng hạ lưu. Từ xưa nhân dân ta đã đắp đê để phòng chống lũ lụt.

Đê Quai Vạc [9] dân ta gọi là đê dưới được đắp từ thời Lý, Trần. Và từ khi có đê Quai Vạc, nhánh nước từ sông Hồng chảy vào Sông Nhuệ bị chặn lại, sông Nhuệ trở thành dòng sông chết.

Trong bài “Địa phương sử kí tổng hòa”  – “ Khai thiên lập địa” ( hội hát Chèo Tàu Tượng xã Tân Hội) có đoạn:

“Nhuệ giang ba nhánh chung dòng,

Bắt đầu từ quãng Hàm Rồng lưu nguyên.

Những thuyền quế từ trên mạn ngược,

Theo sông Hồng chảy miết về đây.

Bến bè ở trước đình này,

Bến Vôi, bến Muối ở ngay miếu đài.

Thương nhân ở xóm Lai xóm Hống,

Phu phen thì ngoài cổng Quần thần.

Đến đời vua Lý Nhân Tông,

Đắp đê Hoàng triệt [10] ngăn dòng lũ sa…

Cửa Hàm Rồng thông ra sông Nhị,

Được tôn cao trị thủy, ngăn dòng.

Lòng sông Nhuệ trước mênh mông,

Đến nay nhận nước trong Đồng bao tiêu…” [11]

Hàng năm đến mùa nước lũ (từ tháng 6 đến tháng 10 âm lịch) làng có điếm canh đê, có tuần phiên, trưởng điếm bảo vệ để đề phòng khi có sự cố xảy ra.

Từ năm 1937, đê Tiểu bối, nhân dân ta gọi là đê trên được đắp. Đất bãi Hạ Mỗ cùng các bãi trong khu vực tả Hồng, hữu Đáy trở thành đất phù sa thành thổ cấy lúa, trồng màu đều dễ dàng.

Việc lấy nước trong vụ chiêm từ sông Hồng vào Đồng được lấy nước chảy tự nhiên qua cống Tròn ở Bá Dương. Đây là một công trình thủy lợi, theo “Khảo cứu lịch sử địa lý tỉnh Hà Đông” – (Tài liệu lưu trữ của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Hà Tây) cho biết “năm 1899 và 1900 sở Công chính thực hiện một chương trình dẫn thủy nhập điền trong địa hạt tỉnh Hà Đông, giúp cho những chủ có ruộng đất cao cấy được 2 vụ một năm. Với mục đích ấy, một lầu nước (thủy tháp) được xây dựng ở Bazan [12] và đào một con sông dài 12 km”.

Trên đoạn sông đào qua địa phận Hạ Mỗ, tất cả các ngôi mộ “vô thừa nhận” được Hội Tập linh đưa về chôn cất xung quanh miếu Âm Hồn và được thờ cúng cùng các vong linh người tử trận trong chiến tranh cũng như những người tha phương cầu thực bị chết qua làng trước đây. Đây là một nghĩa cử cao đẹp của nhân dân Hạ Mỗ.

Hiện nay Cống Tròn đã bị lấp bỏ, việc lấy nước từ sông Hồng vào Đồng ruộng trong đó có Hạ Mỗ bằng hệ thống trạm bơm Hồng Hà – Tiên Tân và trạm bơm Đan Hoài rất thuận lợi đảm bảo nước tưới quanh năm cho cây trồng phát triển.

Bây giờ từ miền Đồng đến miền bãi, từ đất phù sa vị thành thổ, thậm chí cả đất bạch sa (cát trắng) [13] ở bên trại khi chưa có đê, cả đất Đồng sâu pha sét, từ đất bạc màu, đất loại 3 (tam đẳng điền) như khu vực Đồng Trước, Cổ Ngựa, Cháy Điền… đâu đâu cũng cấy được hai vụ, đất màu cũng luôn được trồng xen canh gối vụ từ 2 vụ rồi đến 3 vụ quanh năm.

Mùa màng bội thu, đời sống nhân dân no đủ, không còn cảnh lam lũ, bần hàn khi xưa. Dân làng đã có lời ca nêu lên sự thay da đổi thịt đó:

Cháy Điền gọi tự bao giờ,

Mà nay trông lúa cứ ngờ trong mơ.

Quê ta lam lũ từ xưa,

Tháng năm khát nước, Đồng khô trắng bờ.

Thỏa lòng mong ước đợi chờ,

Nông giang phát triển, Đồng khô chẳng còn.

Dọc ngang mương lớn, mương con,

Chiêm mùa đâu cũng xanh rờn tốt tươi.

Ngô khoai đông biếc rợp trời,

Cháy Điền chẳng thấy, thấy đời ấm no !

  1. Dân cư

Người Hạ Mỗ vốn là người Việt, còn gọi là dân tộc Kinh. Từ xưa tới nay người bản địa đều là người Kinh, thuộc nhóm ngôn ngữ Việt Mường. Theo địa bàn sinh sống và khu vực hành chính từ xưa, người Hạ Mỗ vẫn thuộc người Giao Chỉ (bộ, châu, quận), “Giao Chỉ là một bộ lạc đời Hùng Vương, về đời Hán thuộc xứ Bắc Kỳ bây giờ – nay là miền Bắc nước ta”. [14]

Người Giao Chỉ có đặc điểm ở hai bàn chân, khe giữa các ngón chân đều thưa hai ngón chân cái đều toẽ ra và hướng vào nhau, đấy là dấu tích của người Giao Chỉ còn sót lại. Theo nghĩa từ Hán thì “Giao” là ghé vào nhau, “Chỉ” là ngón chân. Các cụ già cho biết từ xưa ở Hạ Mỗ có nhiều cụ già, nhất là cụ bà còn vết tích này.

Những năm gần đây, trong quá trình giao lưu khi làm ăn, sinh sống trên mọi miền Tổ quốc. Một số trai, gái làng sinh cơ lập nghiệp, lấy vợ, lấy chồng là người các dân tộc anh em như Cao Lan, Mường, Tày trở về Hạ Mỗ sinh sống. Từ xa xưa, ở Hạ Mỗ có thời kỳ người dân tộc thiểu số đã có mặt tại đây, địa danh Trại Mán gợi lại điều đó.

Ở thế kỷ thứ VI, trong kháng chiến chống quân Lương “Khi Nam Đế tránh ở động Khuất Lão, Thiên Bảo cùng với Lý Phật Tử đem tàn quân chạy sang đất người Di Lạo ở Ai Lao, thấy động Dã Năng ở đầu nguồn Đào Giang đất phẳng rộng màu mỡ có thể ở được mới đắp thành để ở nhân tên đất ấy mà đặt Quốc hiệu”.

Sau kháng chiến chống Lương, Đào Lang Vương mất, Lý Phật Tử lên nối ngôi đưa quân từ đất Di Lạo ở Ai Lao xuống miền đông và dời đến thành Ô Diên. Trong số tướng lĩnh, quân sĩ có cả người Kinh và người các dân tộc khác khi đóng đô ở đây. Một vế đôi câu đối tại đình Vạn Xuân ghi: “Cư Quốc chi tây cứ thiên hạ thượng du bản nguyên tiên tráng” (ở về phía hướng tây của nước miền thượng du (rừng núi) trong thiên hạ gốc vốn tráng kiện)

Đất Hạ Mỗ mà ở đó, người Việt cổ đã tụ cư lập nên những xóm làng, dựng xây và phát triển suốt mấy nghìn năm. Thuở ban đầu nơi đây là cả một vùng sông nước mênh mông. Những gò Đồi ven sông, nơi đất cao có thể cư trú, những con người đầu tiên đã tụ cư tại đây. Những địa danh cổ mách bảo chúng ta biết được đâu là những khu vực quần cư đầu tiên như trên cánh Đồng Chùa Hộn (Hạ Mỗ xã địa bạ ghi là Trù Hỗn xứ ) là khu đất cao nằm bên tả ngạn sông Nhuệ phía đông thành Ô Diên. Xung quanh xứ Trù Hỗn còn có các địa danh như khu Cao Đồng (còn gọi là Cai Đồng), Đồng Giềng,  Vườn Gai.

Theo nghĩa từ Hán, “Trù” là cái “bếp” nghĩa là một hộ tính theo đầu bếp. Hỗn nghĩa là “hỗn hợp” cũng có nghĩa là “hỗn độn” (lúc trời đất chưa phân rành mạch gọi là hỗn độn) ở đây chỉ về sự hỗn canh, hỗn cư. Lúc ban đầu đất ở, đất canh tác xen kẽ nhau và lúc đầu ranh giới các hộ dân cư ở xen kẽ chưa có ranh giới, lề lối như sau này.

Còn Đồng Giềng, “Giềng” từ nôm nghĩa là “giềng mối” như giường mối tức là đầu mối chính từ đây. Và còn có nghĩa là láng giềng, người ở nhà bên cạnh, trong quan hệ với nhau.

Khi xưa người Tiên Tân cũng có mặt ở đây, sau này chuyển ra khu vực mới như hiện nay. Tại đình làng Tiên Tân còn đôi câu đối gợi mở cho ta biết về giai đoạn ban đầu của dân làng Tiên Tân:

Hậu hồi Nhĩ thủy văn cai nhuận,

Tiền lập Diên Thành địa thế cao.

(Về sau trở lại phía sông Nhĩ Hà dáng vẻ nhuần nhã.

Khi trước đặt ở miền Ô Diên hình thế đất cao).

Trước đây Tiên Tân chỉ là một thôn thuộc xã Hạ Mỗ. Bia “Kiến mưu phúc Viễn Thạch bi chi Đồ” (bia ghi việc lập mưu để mãi phúc lành) niên hiệu Chính Hòa thứ 20 năm 1699 tại đình làng Tiên Tân vẫn ghi rõ: “Quốc Oai phủ, Từ Liêm huyện, Hạ Mỗ xã, Tiên Tân thôn”.

Đặc biệt cả về sau này người Hạ Mỗ đến Tiên Tân gọi là xuống làng và ngược lại người Tiên Tân đến Hạ Mỗ gọi là lên trên làng. Đó là cách gọi của các làng có tục kết “chạ” ngày trước như lên chạ, xuống chạ.

Cũng như khu Cao Đồng, Chùa Hộn (Trù Hỗn), các doi đất khác trong khu vực, các bếp (nhà) triển khai rộng ra thành các xóm. Xóm Duyên (沿) nghĩa là ven bờ nước sông Nhuệ, hình thành cùng xóm Lẻ là rất sớm. Đôi câu đối cổng xóm Lẻ còn ghi rõ:

Thiên tải do truyền Tô tướng hạng,

Nhất điều biệt chiếm Nhuệ giang biên.

(Nghìn năm còn truyền lại xóm Tô tướng,

Chiếm riêng một giải bên bờ Nhuệ giang.)

Như vậy ngay từ buổi đầu, công việc dựng làng, lập xóm đã hình thành và phát triển nhanh chóng. Địa vực cư trú chủ yếu là khu gò, Đồi và ven sông nối liền một dải theo triền sông Nhuệ cổ và các trục giao thông chính. Xóm Trại, xóm Cầu nằm hai bên bờ ao Dộc, xóm Giữa (nằm giữa hai sườn Đồi).  Các xóm Cuống Cà (nay là xóm Đồng Tâm và xóm Đình) xóm Ngõ Ngoài tiếp tục mở rộng, rồi xóm Đình, xóm Chùa ra đời. Những năm về sau, người Hạ Mỗ mở rộng phạm vi cư trú sang vùng bãi châu thổ Ô Diên. Nhất là từ sau khi đê Tiểu Bối được đắp năm 1937. Xóm Đất Thuế đọc chệch từ “thế” (tức thay thế). Trước cách mạng tháng Tám trai đinh trong làng từ 18 tuổi trở lên được chia đất phần, (đất công), con trai được thế phần đất của người cha đã mất. Xóm Đất Thuế phát triển từ xóm Trại Dưới lên xóm Trại Trên.

Đầu thế kỷ XIX,  được triều đình nhà Nguyễn cho di dân, người An Lão Thị đến trại Hạ Mỗ định cư, lập thành một xóm riêng trên đất thành Ô Diên xưa[15], tục gọi là xóm “Già” [16] tức xóm An Lão hiện nay. Theo chữ Hán “Lão” tức là người già. Hậu bi ký dựng năm Thành Thái thứ 10 -1898 tại đền Chính Khí ghi: “Vĩnh Tường phủ, An Lạc huyện, Thọ Lão tổng, An Lão Thị xã, Hạ Mỗ trại Đồng trại đẳng…”

Người Hạ Mỗ từ xưa đã sớm ý thức bám đất, bám làng thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. Tình nghĩa họ hàng, xóm giềng đã tạo thành sức mạnh cho mỗi con người chung lưng, đấu cật xây dựng và bảo vệ quê hương xứ sở.

Người có trước, người đến sau họ luôn quý trọng nhau, không phân biệt đối xử giữa người bản địa với người đến định cư sau. Ngay từ khi đặt chân lên đất Hạ Mỗ bà con An Lão Thị đã được nhân dân bản trại giúp đỡ khắc phục khó khăn, nhanh chóng ổn định cuộc sống. Bia “Hậu bi ký” tại đền Chính Khí dựng năm Thành Thái thứ 10 (Mậu Tuất -1898) ghi lại sự kiện nhân dân ta giúp đỡ bà con thoát cảnh nợ thuế má tháng 7 năm Bính Ngọ (1846) đã minh chứng điều đó.

Hạ Mỗ cũng là một làng nhiều họ [17]. Qua khảo sát hiện làng Hạ Mỗ có tới hơn 40 dòng họ. Riêng họ Nguyễn Văn có hơn 10 họ hoàn toàn khác nhau về nguồn gốc, không có quan hệ ruột thịt. Hầu hết các tộc phả của các họ bị thất lạc, những họ lớn phần nhiều cũng chỉ ghi lại được theo phả hệ từng chi. Và theo tộc phả của các họ, phần lớn chắp nối được gần 20 đời. Như vậy thời gian các họ ở Hạ Mỗ có mặt trên đất Ô Diên mới ghi chép được khoảng 500 – 600 năm ?! Với sự hiện diện của các nhân vật lịch sử như: Thiền sư Nguyễn Trí Bảo, Thái úy Tô Hiến Thành thì có lẽ họ Tô và họ Nguyễn Trí có sớm hơn cả nhưng cũng mới chắp nối được gần 1000 năm.

Hiện nay có các họ Nguyễn Khắc, Nguyễn Thế, Lê Hữu… là đông người hơn cả. Theo cuộc điều tra dân số năm 1927 làng Hạ Mỗ (lúc đó là xã) dân số có 2.487 người; năm 1937 tức là sau 10 năm dân số đã tăng lên khoảng 3.000 người đến nay năm 2018 có 8.767 người..

  1. Những thay đổi về địa danh, địa giới và hành chính

Hạ Mỗ xưa là đất Ô Diên ( ), tục gọi Kẻ Ó,  có thành Ô Diên đã đi vào lịch sử dân tộc với tư cách là kinh đô nhà nước Vạn Xuân dưới triều Hậu Nam Đế ở thế kỷ thứ VI. Có hai giả thuyết về địa danh Ô Diên.

Một là: Ô Diên hay Kẻ Ó là dấu tích việc sùng bái vật Tổ (tô tem) thời thượng cổ ( Ô tức chim quạ, Ó là chim thuộc loài diều hâu).

Hai là Ô Diên có liên quan với quận Chu Diên hồi đầu Công Nguyên (Ô Diên cánh diều sắc đen, Chu Diên cánh diều sắc đỏ). Xa hơn nữa, người ta còn nghĩ tới bộ Chu Diên, một trong 15 bộ hợp thành nước Văn Lang thời các vua Hùng. Sách Lĩnh Nam chích quái chép tên 15 bộ đó là:  Giao Chỉ, Chu Diên, Ninh Sơn, Phú Lộc, Việt Thường, Minh Hải, Dương Tuyền, Quế Dương, Vũ Ninh, Hoài Nam, Cửu Chân, Nhật Nam, Chân Định, Quế Lâm và Tượng Quận. [18]

Sách Lĩnh Nam chích quái, trong truyện “Hai bà Trinh Linh phu nhân họ Trưng” có ghi là: Hai bà “tự lập làm vua, mới xưng là Trưng, đóng đô ở thành Ô Diên”. Mối quan hệ giữa Ô Diên và Chu Diên, theo Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam: “Chu Diên, huyện thuộc quận Giao Chỉ về đời Hán, đời Đường là Diên Châu, nhà Lê đặt làm phủ Tam Đái, tương đương với tỉnh Vĩnh Yên sau này. Có địa điểm Ô Diên, nay là làng Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây, quê Thi Sách (chồng Trưng Trắc)” [19].

Ô Diên lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử – ở trên thực địa và vào trong sử sách – là về thời nhà Đường đô hộ. Sách “Tân Đường thư” được dẫn lại trong “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, “Đại Việt địa dư toàn biên”… cho biết: Đây là một địa danh và đơn vị hành chính cấp huyện, được đặt vào từ năm Vũ Đức thứ 4 (621 sau Công Nguyên) và là một trong 3 huyện của châu Nam Từ, đất Giao Chỉ.

Sách “Sử học bị khảo” (thế kỷ 19) trong khi không cho biết căn cứ nhưng lại nói rằng Ô Diên là tên huyện thời Hán (không phải thời Đường), thì đã cung cấp một thông tin khác nữa rằng Ô Diên còn là thủy danh của một đoạn sông Nhị Hà (sông Hồng) nối vào cửa Sông Đuống (xưa là sông Thiên Đức)[20]. Học giả Đào Duy Anh, trong sách “Đất nước Việt Nam qua các đời” từ đây cho rằng: do sông Ô Diên mà có huyện Ô Diên tức là địa danh và địa bàn huyện Ô Diên thời chống đô hộ nhà Đường, bắt nguồn từ thủy danh và thủy khúc sông Ô Diên.

Sử gia Ngô Thì Sĩ, trong sách “Đại Việt sử ký tiền biên” (thế kỷ 18) có nói rằng “Ô Diên về mặt tự dạng chữ Hán có hai cách viết khác nhau”. Điều này khiến người ta nghĩ rằng: Ô Diên có thể là một tên phiên âm của một địa danh (cả thủy danh và tộc danh nữa) Việt cổ, chuyển sang chữ Hán tự và Hán ngữ mà thành. Giống như Liên Lâu (khi thì lại là “Luy Lâu” rồi “Ly Lâu”) là sự phiên âm sang chữ (và tiếng) Hán – Việt của tên đất, tên sông và bộ lạc Việt cổ: Dâu.

Nhưng căn cứ vào địa bàn (địa vực) của huyện và sông Ô Diên được sử sách chỉ định, nhất là những tín hiệu và những điều được coi là một số “mảnh vỡ” truyền về lịch sử quá khứ xa xưa, của và ở miền đất và nước mà đến từ thế kỷ 7 sau Công Nguyên thì được gọi là Ô Diên này. Cả những tín hiệu được bảo lưu mãi về sau, thậm chí đến tận bây giờ, thì lại có thể nghĩ sang một hướng khác. Dường như những người phương Bắc (đầu tiên) và những nhà Hán học (Nho học) của ta, tiếp sau đã dùng hai chữ Ô Diên là để thích nghĩa (phản ánh) một đặc trưng căn cốt của một địa bàn do một cộng Đồng người cổ – có thể là một bộ lạc – từ thời trước Công Nguyên đã sinh sống ở đây với tín ngưỡng thờ chim thiêng. Do đó, đã Đồng nhất gọi tên cộng Đồng mình là Chim. Sau đó theo cùng sự phát triển của thời gian và tư duy, đã diễn ra tiến trình cụ thể hóa (chi tiết hóa) từ loài chim nói chung, thành một giống chim có đặc trưng mạnh hơn, là chim Ưng (diều hâu). Tiếp tục tiến trình phân tích này, Chim Ưng được ghép thêm màu sắc (đen và đỏ) để chỉ định sự khác biệt hình thành những đơn vị cộng Đồng người mới được chia ra nhân lên. “Chim Ưng đen” – Ô Diên, đã ra đời và tồn tại trong bối cảnh ấy, để đối sánh với “Diều Hâu đỏ” – Chu Diên (sau chuyển hóa thành Đan Phượng “Phượng Hoàng Đỏ”). Cộng Đồng người và đất với nước “Chim Ưng đen” đến thời chống đô hộ nhà Đường thì được người phương Bắc khoanh lại và tổ chức thành một đơn vị hành chính – cư dân cấp huyện gọi tên là Ô Diên.

“Hương Ô Diên” lần đầu tiên được chỉ định là “xã Hạ Mỗ” phải là từ thế kỷ 15. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” hoàn thành năm 1479 có câu viết rành rẽ “Lý Phật Tử dời đến thành Ô Diên, nay (tức là thế kỷ 15) là xã Hạ Mỗ”. Các sách khác như “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn (thế kỷ 18), “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú (đầu thế kỷ 19), “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” (cuối thế kỷ 19) đều theo đấy mà khẳng định: Trung tâm Ô Diên là làng Hạ Mỗ.[21]

Như vậy Ô Diên còn gọi là Ô Duyên là địa danh (địa bàn dân cư) có từ thuở ban đầu của người Hạ Mỗ xưa[22] ít nhất là từ đầu Công Nguyên, song song với địa danh Chu Diên thời Hùng Vương. Sau đó thời Hán thuộc quận Giao Chỉ.

Đến giữa thế kỷ thứ VI, năm 557, Lý Phật Tử được Triệu Việt Vương chia địa giới về thành Ô Diên đóng bản doanh. Sau khi đã dứt ngôi vua Triệu thâu tóm toàn bộ đất nước thì Ô Diên trở thành Quốc đô của Nhà nước Vạn Xuân. Một thời gian sau, Hậu Nam Đế Lý Phật Tử dời đô về Cổ Loa thì Ô Diên vẫn tiếp tục được coi là vị trí của tầm chiến lược quan trọng nên Lý Phật Tử đã cắt cử Biệt súy Lý Phổ Đỉnh đóng giữ nơi này đến cuối cuộc kháng chiến chống Lương Tùy (602 Nhâm Tuất).

Từ Ô Diên hay Kẻ Ó được đổi thành Phú Lộc – “Phú Lộc trang” [23]. Tuy không biết thời gian chính xác, nhưng theo các nhà nghiên cứu thì đến thời nhà Đường thống trị nước ta, ở thế kỷ thứ 7, phần lớn tên dân gian (Nôm) được chuyển sang âm Hán ngữ [24]. Việc đổi tên Nôm sang Hán tự phần lớn do nhân dân địa phương và các kỳ hào, chức sắc, nhà nho trong làng đại diện đặt tên và trình lên chính quyền cấp trên công nhận.

Nhiều nơi tuy đã có tên mới, nhưng tên cũ nhân dân vẫn quen dùng. Tên mới chỉ để sử dụng trong giấy tờ và giao tiếp là chính. Tên làng đặt theo chữ Hán thường có 2 âm tiết, trường hợp 3, 4 âm tiết cũng có nhưng chỉ là hãn hữu. [25]

Người Ô Diên hay Kẻ Ó mong muốn cuộc sống được giàu có và bổng lộc nhiều hơn nên chọn đổi tên là “Phú Lộc ấp” rồi “Phú Lộc trang” [26] sau này Phú Lộc ( 祿) lại đổi thành Hạ Mỗ ( ).

          Theo các cụ già trong làng thì địa danh Hạ Mỗ [27] xuất hiện từ lần đầu chuyển miếu Hàm Rồng năm Đinh Sửu (577). Trong “Bùi gia thế phả” ghi về các thời kỳ lập miếu, tu tạo miếu Hàm Rồng có ghi: Đinh Sửu niên tam Nguyệt, thập tam Nhật tu tạo cải Ất hướng kiêm Mão. Cước chú: vi hữu mỹ nữ” (ngày 13 tháng 3 năm Đinh Sửu tu tạo đổi Đông – Đông Nam: có con gái đẹp).

Nhưng cả ba địa danh Ô Diên, Phú Lộc, Hạ Mỗ được ghi đầy đủ trong “Tiền Lý Nam Đế đệ Bát Lang Hoàng tử Dũng Nghị đại vương ngọc phả cổ lục” do Lễ bộ Hàn lâm viện đông các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Nhâm Thân (572). Và như vậy địa danh Hạ Mỗ ra đời sớm hơn lần tu tạo miếu Hàm Rồng lần thứ năm (577).

Khi nghiên cứu về địa danh Hạ Mỗ trong bài “Bàn thêm về làng Hạ Mỗ quê hương của Thái uý Tô Hiến Thành” tại hội thảo “Danh nhân Tô Hiến Thành cuộc đời và sự nghiệp” ngày mùng 8 tháng 7 năm 1997, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tá Nhí – Viện nghiên cứu Hán Nôm lại cho ta hiểu thêm về địa danh Hạ Mỗ theo một thời kỳ mới rất xa và có cả trước địa danh Ô Diên.

“Làng Mỗ bên bờ sông Hồng thuộc huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, sau chia thành Mỗ Thượng và Mỗ Hạ đến lúc ghi vào văn bản là Thượng Mỗ và Hạ Mỗ, nay thuộc huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây. [28]

Tất cả các làng Mỗ này đều được ghi bằng chữ Hán là Mụ. Trong tiếng Việt từ Mụ dùng để chỉ vào người đàn bà có tuổi, thường được dùng để dịch từ Hán “Lão bà”.

Mụ có thể là người phụ nữ có tuổi bình thường, cũng có thể chỉ vào bà lão nặng nghĩa, nặng tình. Chẳng hạn như bà Phiếu Mẫu tốt bụng chép trong “Sử ký của Tư Mã Thiên”, người đã giúp cho danh tướng Hàn Tín miếng cơm trong lúc đói lòng đã được các thi nhân thời Hồng Đức (1460 – 1497) nhắc đến trong bài thơ vịnh Hàn Tín. Đặc biệt tác giả đã dùng từ “Mụ” để đối lại với đấng cửu trùng đáng kính.

Đến Thiền tông bản hạnh, Thiền sư Chân Nguyên còn ghi lại một câu chuyện khá cảm động về việc lập ra làng Mụ ở Yên Tử. Thời bấy giờ sau khi chỉ huy quân dân Đại Việt đánh tan đội quân viễn chinh Nguyên Mông lần thứ ba, vua Trần Nhân Tông liền theo bước chân của cha ông, nhường ngôi cho Thái tử rồi bỏ lên núi Yên Tử tu thiền. Ngày ấy, các quan trong triều rất lo ngại, liền bày đặt kế sách cho các cung tần mỹ nữ lũ lượt kéo đến Yên Tử hòng níu kéo chân vua. Tương truyền các cung nữ cứ lẵng nhẵng đi theo, khi đến vùng suối Giải Oan thì nhất loạt ngâm mình dưới nước để lung lạc lòng vua. Nào ngờ gặp cơn mưa gió bất thường, lũ rừng ào ạt kéo về cướp đi hàng trăm sinh mạng. Động lòng trắc ẩn, vua Trần Nhân Tông cho lập Đàn chiêu hồn cho các cung nữ và đặt tên suối là Giải Oan. Số người còn sống sót mộ đạo chẳng về, được nhà vua sắp xếp chia ra ở làng Nường và làng Mụ trong rừng Yên Tử. Hẳn là làng Nường là nơi ở của các cung nữ trẻ tuổi, còn làng Mụ là nơi ở của các mụ cung phi mộ đạo.

Từ truyện kể về làng Mụ ở Yên Tử cho phép chúng ta liên tưởng đến làng Mỗ quê hương của Thái Úy Tô Hiến Thành. Phải chăng đây chỉ vào khu vực cư dân của người Việt mà người đứng đầu là phụ nữ ? Phải chăng đó là bằng chứng về chế độ mẫu hệ trong các tộc người Việt thời cổ ?  Nếu quả đúng như vậy thì lòng Hạ Mỗ phải có lịch sử hơn 2000 năm nghĩa là phải có trước thời kỳ đất Đại Việt chịu ảnh hưởng của người Hán.

Những kiến giải trên đây cho thấy Hạ Mỗ hay Ô Diên, Ô Diên hay Hạ Mỗ thì làng “Hạ Mỗ là miền đất rất cổ” (địa chí Hà Tây). Cũng vì “duyên cách” (sự thay đổi, biến đổi trong lịch sử) mà ban đầu Hạ Mỗ đổi thành Ô Diên rồi đến sau này lại trở về tên làng Hạ Mỗ nhân có sự kiện năm Đinh Sửu (577) “Vi hữu mỹ nữ” (sự mầu nhiệm có con gái đẹp). Tên làng Hạ Mỗ từ đó được gọi đến nay không hề thay đổi [29]. Đại Nam quốc sử diễn ca đã ghi: “Triệu về Long Đỗ Nhĩ Hà, Lý về Hạ Mỗ ấy là Ô Diên”.

Từ khi định danh làng Hạ Mỗ, dân gian trong vùng thường gọi là Kẻ Mỗ hay Kẻ Mố bao gồm cả Mỗ Thượng tức làng (xã) Thượng Mỗ và Mỗ Bến tức là làng (xã) Tiên Tân. Tiên Tân trước thuộc xã Hạ Mỗ [30] sau đó tách ra thành xã riêng và ngày nay thuộc xã Hồng Hà.

Từ đầu thế kỉ XIX về trước, Hạ Mỗ thuộc tổng Thượng Hội, huyện Từ Liêm, Phú Quốc Oai, Trấn Sơn Tây. [31]

Sang đầu thế kỷ XX Hạ Mỗ thuộc Tổng Thượng Hội, Huyện Từ Liêm, Phủ Quốc Oai, Tỉnh Hà Đông. [32]

Từ cách mạng Tháng Tám 1945 đến kháng chiến chống Thực dân Pháp, Hạ Mỗ thuộc xã Hồng Thái (nay là 3 xã Hạ Mỗ, Thượng Mỗ và Hồng Hà) thuộc liên huyện Bắc (trước năm 1953), huyện Đan Phượng từ năm 1953 trở về sau thuộc tỉnh Hà Đông. Từ năm 1972 xã Hồng Thái (tức Hạ Mỗ) đổi lại tên là xã Hạ Mỗ. Hạ Mỗ thuộc huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông rồi Hà Tây 1965, Hà Sơn Bình 1976, Hà Nội 1979, Hà Tây 1991. Từ tháng 8 năm 2008 Hạ Mỗ lại thuộc huyện Đan Phượng thành phố Hà Nội.

[1] – Câu đối miếu Hàm Rồng ghi:

“Ức tải hạt cùng, thánh tích trường lưu Văn Điến địa.

Thiên thu bất hủ, linh đô vĩnh cứ  Vạn Xuân thiên”.

(Vạn vạn năm ở địa hạt cuối này, tích thánh để lại lâu dài trên đất Văn Hiến.

Hàng nghìn năm sau vẫn như chẳng cũ, đô thành thiêng liêng còn mãi dưới trời Vạn Xuân.)

[2] – Đinh Nguyên thuộc đất Thanh Khô, tổng Thọ Lão, huyện Yên Lạc, Phủ Tam Đới, trấn Sơn Tây (nay thuộc thôn Thanh Điềm, xã Tiến Thịnh, huyện Mê Linh, tp Hà Nội). Miếu Đinh Nguyên hiện nay ở thôn Tây Sơn, xã Thọ An, huyện Đan Phượng là do nhân dân làng Thanh Khô bên tả ngạn sông Hồng sang định cư trên bãi sông lập nên sau này. Nguyệt Lão thuộc đất thôn Bá Dương Thị, xã Hồng Hà .

[3] – Hạ Mỗ xã Địa bạ (Gia Long thứ 4(1805)ghi: “Bản xã châu thổ Ô Diên, U xứ giáp Thượng Mỗ xã châu thổ”

      U xứ là khu đất nằm giữa cụm dân cư số 1 và cụm dân cư số 2 bây giờ. Lúc đó còn đất phù sa, bạch sa (cát trắng) xen lẫn đất vườn, hồ, ao…

      U chữ Hán nghĩa là ẩn núp, sâu xa. Phàm cái gì giấu một chỗ kín không cho ai biết gọi là U (như u cư: ở núp, u trì: giam chỗ kín). Xứ U xưa kia là khu vực sâu kín.

[4] – Thần tích, thần sắc làng Thanh Điềm, tổng Thọ Lão, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông. Nguồn Viện Thông tin KHXH. Hà Nội.1995.Ký hiệu FQ4018/II,29.(bản chữ Hán. trang 296)

      Miếu Đinh Nguyên. Nguồn Đan Phượng di tích lịch sử văn hóa và cách mạng.NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.2011. trang 284).

[5] – Từ khi chưa có đê, nước sông Cái (sông Hồng) chảy tràn qua khu vực này nên có ghềnh.

Ghềnh: chỗ dòng sông có đá lởm chởm nằm chắn ngang, làm nước dồn lại, chảy xiết (lên thác, xuống ghềnh) “Bao giờ cho sóng bỏ ghềnh, Cù lao bỏ bể thì anh quên nàng” (ca dao).

[6] – Trong trận vỡ đê Liên Mạc (Ất Mão – 1915) nước sông Hồng chảy tràn ngập khắp nơi, nhưng chỉ mấp mé ruộng đồng phía Đông Nam của làng. Vụ vỡ đê trước kia gọi là vụ tràn Quý Tỵ (làm thành vực Thón) nước cũng không thể dồn qua đất Hạ Mỗ.

Theo “Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ” của Pierre Gourou – Viện khoa học lịch sử Việt Nam. Viện Viễn đông Bác cổ Pháp. NXB. Trẻ. 2003, “Vỡ đê Liên Mạc (tổng Hạ Trì, phủ Hoài Đức, Hà Đông) bị vỡ đã đổ một khối lượng nước hết sức lớn ước tính 6.400 m3/s. Tổng số nước ùa vào vùng này được ước tính là 40 tỷ m3. Có 103.000 ha /107.000 ha bị ngập nước ở phía Nam vùng này, nước lên tới độ cao 6 m.

Bài ca vỡ đê Liên Mạc còn ghi:

“Giời làm một trận tràn hòa,

Vỡ đường Liên Mạc thật là khổ thay.

Vỡ đường Liên Mạc ngày này,

Cửa nhà trôi hết, người nay hãi hùng.

Kìa như mồ mả ngoài đồng,

Đình chùa miếu mạo theo dòng nước xuôi.

Nào là gà lợn chết trôi,

Ai mà chẳng khổ giời ơi là giời”.

[7] – Văn Hiến đường bi ký ghi “Cháy Điền xứ”, Hạ Mỗ xã địa bạ ghi “Cháy Đèn xứ”, Phả ký đền Tri Chỉ thì còn ghi là “Trái Điền”.

[8] – Ông Từa, tức Từ Đạo Hạnh, vị Thiền Sư tu ở chùa Thầy (nay thuộc xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai) hội chùa Thầy hàng năm tổ chức vào ngày mùng 7 tháng 3 âm lịch. Trong dịp này thường xuất hiện mưa gió tạt qua làng ta, các cụ bảo đấy là cụ Từa về quét chùa (gió) hay rửa chùa (mưa).

[9] – Còn có tên gọi là đê Đỉnh Nhĩ. Chữ Hán Đỉnh Nhĩ  nghĩa là Quai Vạc.

      Xem thần tích, thần sắc làng Thuận Thượng, tổng Đan Phượng, huyện Đan Phượng tỉnh Hà Đông. – Số TTTS FQ4018/II,6. Nguồn Viện Thông tin Khoa học Xã hội. Hà Nội. 1995.

[10] – Hoàng nghĩa là kíp, gấp;  Triệt nghĩa là bỏ đi, trừ đi. Ở đây ám chỉ việc đắp đê ngăn lũ một cách gấp gáp.

[11] – Từ khi có đê Quai Vạc, sông Nhuệ chỉ còn là dòng sông chết. Bởi các ô nước đứt quãng và chỉ còn chức năng tiêu úng cho các khu vực xung quanh thượng nguồn. Và cũng vì vậy có người lầm tưởng sông Nhuệ phát nguyên từ làng Đăm hoặc từ Cống Chèm. Trong “Từ điển tiếng Việt” – NXB Đà Nẵng, trung tâm từ điển học. Trong mục “phát nguyên” trang 203 ghi: “sông Nhệ Giang phát nguyên từ làng Tây Đàm, huyện Từ Liêm qua huyện Thanh Oai, Thanh Trì phía Nam hợp lưu với sông Tô Lịch …”. Tây Đàm tức làng Đăm, trong “Bơi Đăm, rước Giá, hội Thầy…”.  Thực ra khu vực Đầm Đăm chỉ là một ô trũng trên đoạn sông Nhuệ cổ. Người địa phương gọi là sông Pheo (trước đó gọi là đầm Pheo). Từ Pheo là từ đọc chệch từ chữ Phiêu, Phiêu chữ Hán nghĩa là bong bóng cá. Đầm Đăm, mặt nước nối liền hai ô nước một to, một nhỏ trông giống hình bong bóng cá. Lại cũng có người cho là sông Nhuệ phát nguyên từ Cống Chèm, xã Thụy Phương. Nhưng thực tế nguồn nước sông Hồng chảy vào qua Cống Chèm rồi đổ tiếp vào sông Nhuệ hiện nay là do từ thời gian vỡ đê Liên Mạc, người ta đào con sông đào làm công trình dẫn thủy nhập điền.

[12] – Bazan là tên Bá Dương mà người Pháp viết. Và cũng từ đó Bá Dương còn gọi là Bá Giang. (Xem Kể chuyện tên làng Việt – NXB Văn hóa dân tộc – Hà Nội – 2010 – trang 128).

[13] – Theo Hạ Mỗ xã địa bạ – Gia Long tứ niên (Ất Tỵ – 1805).

[14] – Hán Việt từ điển – Đào Duy Anh. NXB KHXH.1992. Tập Thượng. trang 328.

[15] – Nơi khi người Hạ Mỗ ngại ở bởi câu: “Đất lắm ma, chẳng ma nào dám ở” tức đất thành Ô Diên xưa rất thiêng.

[16] – Xóm Già còn là tên tục ba làng Già Mét: tức Thọ Lão, An Lão Giáp và An Lão Thị, tổng Thọ Lão, huyện Yên Lạc, phủ Tam Đới ( đời Minh Mạng đổi là Vĩnh Tường), trấn Sơn Tây.

[17] – Làng Hạ Mỗ còn có xóm Mô Tê và họ Mô Tê. Mô Tê là tiếng địa phương người ở miền Trung. “Mô” là “đâu”  (đi mô ? – đi đâu ?, người mô ? – người nào ?….). “Tê” là “kia” ( đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát, đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng cũng bát ngát mênh mông – ca dao )

      Đất lành chim đậu, khi xưa nghiều người từ xứ Nghệ có các bà ra buôn bán ngoài Bắc, đến Hạ Mỗ rồi ở luôn không về quê. Khi mất đặt hậu ( có Hậu hạng bi nghĩa là bia Hậu xóm) cho người xóm nào thì xóm đó gọi là xóm Mô Tê. Đặt hậu cho những người cùng chơi phường họ thì gọi những người đó là họ Mô Tê. Tên thực của các bà đó vì không biết hoặc kiêng nên đều gọi thành tên Mô Tê (bà Mô Tê, cụ Mô Tê).

[18] – Lịch sử Việt Nam – Tập 1. NXB Đại học THCN.Hà Nội.1995.Trang 105.

[19] – Từ điển địa danh lịch sử Văn hóa Việt Nam. NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội.1998.trang 221.

[20] – Có thể là sông Thiên Phù (ở khu vực Bưởi, Tây Hồ ngày xưa). Dòng sông Thiên Phù nối từ sông Nhị Hà với sông Tô Lịch tại góc Tây Bắc thành Long Biên, sông Thiên Phù đã bị lấp từ lâu.

[21] – Theo “Kỷ yếu Hội thảo khoa học thành cổ Ô Diên” (Hai điểm suy nghĩ về Ô Diên của Giáo sư Lê Văn Lan). Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch – Ủy ban nhân dân huyện Đan Phượng. Hà Nội. 2011.

[22] – “… “Duyên” cũng chỉ là một âm khác của chữ “Diên”, có nghĩa là chim Ó. Ô Diên là chim Ó đen (phải chăng nơi đây là đất bản bộ của bộ lạc Ó đen sinh sống thời Công xã nguyên thủy với tục lệ thờ loài chim dữ kia làm vật tổ)” – theo “Hà Nội – con đường – dòng sông và lịch sử”. Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn Văn Lê. NXB Giao thông vận tải. Hà Nội. 1984. Trang 36,37.

[23] – Trong ngọc phả “Tiền Lý Nam Đế đệ Bát Lang hoàng tử Dũng nghị Đại vương” (Hà Đông tỉnh, Hoài Đức phủ, Từ Liêm huyện, Thượng Hội tổng, Hạ Mỗ xã thần tích) Viện nghiên cứu Hán Nôm, phòng bảo quản ghi là “Ngụ Lộc chi ấp”. Chúng tôi cho rằng đây là sự lầm lẫn giữa Phú Lộc và Ngụ Lộc. Ngụ Lộc nghĩa là gửi lộc. Đây là bản do Lý trưởng Nguyễn Như Chương ký. Các bản khác cũng sao chép còn giữ ở địa phương thì đều là Phú Lộc. Phú – giàu có, Lộc – Phúc, tốt lành, bổng lộc.

[24] – Theo Thái Hoàng. Bàn về tên làng Việt Nam. Tạp chí dân tộc học số 1.1982.

[25] – Kể chuyện tên làng Việt. NXB VHDT.Hà Nội.2010. Trang 30.

[26] – Thần sắc ghi: “Hoàng công vi đệ Bát tử Lý Phật Tử chi tử dã Phú Lộc chi ấp dã thiết lập cung doanh”

      Câu đối tại xóm Đất thuế (cổ nhất) ghi: Công minh, chính trực, Ô Diên địa

                                                                      Chúa tể quyền hành Phú Lộc trang.

[27] – Theo triết tự thì Hạ Mỗ ( ) cần được hiểu như sau:

      Câu thơ “Nhất () quyết gả bốc () cho yên, con gái () lão () cứ một niềm chẳng chịu dời xa”. Để nói về tên làng Hạ Mỗ (ghép hai chữ nhất () và chữ bốc () thành chữ Hạ () và hai chữ nữ () tức con gái và lão  () thành chữ Mỗ ()

      Hạ ()  1) dưới, 2) xuống dưới, 3) ra (ra ban, ra lệnh) – một âm đọc là “há” cũng có nghĩa là xuống – trên xuống dưới.

      Mỗ () hay mụ: Tên đất cũng như chữ mỗ () là thầy dạy con gái (nữ giáo viên)….

[28] – Kỷ yếu Hội thảo Danh nhân Tô Hiến Thành cuộc đời và sự nghiệp. Sở VHTT Hà Tây. 1999. Trang 105.

[29] – Sắc phong ngày 5 tháng 2 năm Hoằng Định (1609) đời vua Lê Kính Tông đã viết: “ Tài năng hòa thiện sánh kẻ sĩ thời Chu phù giúp sự nghiệp trời Nam. Ngự hoạn trừ tai phù giúp đất Hạ Mỗ được dân khang vật thịnh. Thờ tự như nhà Hạ, tôn sùng như nhà Chu. Vì đền thờ linh thiêng ngự hoạn, trừ tai có công với dân nơi này. Nay quốc gia khôi phục, nhờ sức phù giúp của thần. Đáng gia phong…”. (Hà Đông tỉnh, Hoài Đức phủ, Từ Liêm huyện, Thượng Hội Tổng, Hạ Mỗ xã – thần sắc – Viện nghiên cứu Hán Nôm, phòng bảo quản, trang 25, bản chữ Hán).

[30] – Kiến mưu phúc viễn thạch bi chi đồ (Bia ghi việc lập mưu để mãi phúc lành) – Đình tiền bi ký (Bia ghi về đình khi trước) đời vua Lê Hy Tông, niên hiệu Chính Hòa thứ 20 (1699) tại đình làng Tiên Tân ghi: Phủ Quốc Oai, huyện Từ Liêm, xã Hạ Mỗ, thôn Tiên Tân.

[31] – Tên làng xã Việt Nam đầu thể kỷ 19. NXB KHXH.HN.1981.trang 36.

[32] – Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ. NXB VHTT.HN.1999.trang 40.