LÀNG HẠ MỖ

Lời cửa miệng xưa nay của người Hạ Mỗ:

Làng chúng tôi Đế Vương đất cũ,

Người chúng tôi Tể Phụ ngày xưa.

Diên Thành, Nhuệ Thủy trơ trơ,

Người trung trung tự thuở xưa đến giờ.

Làng Hạ Mỗ ngày nay thuộc xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

“ Hạ Mỗ là miền đất rất cổ”[1] có bề dày lịch sử văn hóa lâu đời. Hạ Mỗ xưa là đất Ô Diên, tục gọi Kẻ Ó [2] có thành Ô Diên đã đi vào lịch sử dân tộc với tư cách là kinh đô nhà nước Vạn Xuân dưới triều Hậu Lý Nam Đế ở thế kỷ thứ 6.

Khi xưa còn là bờ non bãi nổi, sông nước mênh mông trên ngã ba sông Hồng, sông Nhuệ và sông Đáy (còn gọi là sông Hát).

Cửa Hàm Rồng ngày ấy là đầu mối chuyển nước sông Hồng vào sông Nhuệ tấp nập trên bến dưới thuyền.

Nơi đây, tại bãi Trường Sa (bãi cát dài), năm 40 đầu Công Nguyên, Hai Bà Trưng đã hội quân, lập đàn tế thiên địa trước lúc xuất quân đánh giặc Đông Hán[3]. Đường hành quân cũng từ đây, thuyền xuôi dòng sông Hồng, sông Nhuệ. Sau này, nhân dân Gối Thượng tổ chức Hội hát chèo tàu để diễn lại sự kiện này.[4]

Đến giữa thế kỷ 6, năm 557, Lý Phật Tử được Triệu Việt Vương chia địa giới  về thành Ô Diên đóng bản doanh[5]. Sau khi đã dứt ngôi vua Triệu, thâu tóm toàn đất nước thì Ô Diên trở thành quốc đô. Một thời gian sau, Hậu Nam Đế Lý Phật Tử dời đô về Cổ Loa thì Ô Diên vẫn tiếp tục được coi là vị trí có tầm chiến lược quan trọng nên Lý Phật Tử đã cắt biệt súy Lý Phổ Đỉnh đóng giữ nơi này đến cuối cuộc kháng chiến chống Lương Tùy (602 –  Nhâm Tuất).

Từ Ô Diên hay Kẻ Ó được đổi thành Phú Lộc tuy không biết thời gian đích xác, nhưng theo các nhà nghiên cứu thì đến đời nhà Đường thống trị nước ta ở thế kỷ 7, phần lớn tên dân gian (nôm) được chuyển âm sang Hán Ngữ.[6] “ Việc đổi tên Nôm sang Hán tự phần lớn do nhân dân từng địa phương mà các kỳ hào, chức sắc, nhà nho trong làng đại diện đặt tên và trình lên chính quyền cấp trên công nhận.

Nhiều nơi, tuy đã có tên mới nhưng tên cũ nhân dân vẫn quen dùng, tên mới chỉ để sử dụng trong giấy tờ và giao tiếp là chính. Tên làng đặt theo chữ Hán thường có hai âm tiết, trường hợp 3, 4 âm tiết cũng có nhưng chỉ là hãn hữu”.[7]

Người Ô Diên hay Kẻ Ó mong muốn cuộc sống được giàu có và bổng lộc nhiều hơn nên chọn đổi tên làng là Phú Lộc[8]. Sau này từ Phú Lộc đổi thành Hạ Mỗ thì đến nay chưa biết đích xác từ bao giờ.

Theo các cụ già làng thì địa danh Hạ Mỗ có từ lần chuyển hướng miếu Hàm Rồng năm Đinh Sửu (1577): “Đinh Sửu niên tam nguyệt thập tam nhật tu tạo cải Ất hướng kiêm Mão (Vi hữu mỹ nữ)”.[9] Nhưng theo “Tiền Lý Nam Đế đệ Bát Lang hoàng tử Dũng Nghị đại vương ngọc phả cổ lục” do Lễ bộ Hàn Lâm viện Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn năm Nhâm Thân (1572) thì cả ba địa danh Ô Diên, Phú Lộc và Hạ Mỗ đều được ghi đầy đủ.[10]

Còn Đại Việt sử ký toàn thư ( theo Biểu dâng sách Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên (Kỷ Hợi – 1479) thì địa danh Hạ Mỗ đã được ghi trong “ Kỷ Triệu Việt Vương”.[11]

Vậy Ô Diên là tên cổ nhất của Hạ Mỗ, ít nhất là từ đầu công nguyên; Phú Lộc là tên được đổi từ Ô Diên hay Kẻ Ó vào khoảng thế kỷ thứ 7 thời thuộc Đường; còn Hạ Mỗ được gọi như ngày nay thì ít nhất phải ra đời từ đầu thế kỷ 15 trở về trước. Từ khi đổi tên là Hạ Mỗ thì dân gian trong vùng thường gọi là Kẻ Mỗ hay Kẻ Mố (bao gồm cả Mố Thượng – tức Thượng Mỗ, và Mố Bến – tức Tiên Tân trước thuộc xã Hạ Mỗ, sau đó tách thành xã riêng và nay thuộc xã Hồng Hà).

Từ đầu thế kỷ 19, Hạ Mỗ thuộc tổng Thượng Hội, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây.

Sang đầu thế kỷ 20, Hạ Mỗ thuộc tổng Thượng Hội, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông.

Từ cách mạng tháng Tám 1945 đến kháng chiến chống thực dân Pháp, Hạ Mỗ thuộc xã Hồng Thái (nay là ba xã Hạ Mỗ, Thượng Mỗ và Hồng Hà) thuộc liên huyện Bắc (trước 1953), Đan Phượng (từ năm 1953 về sau) tỉnh Hà Đông.

Từ năm 1972, xã Hồng Thái đổi tên lại là xã Hạ Mỗ. Hạ Mỗ thuộc huyện Đan Phượng tỉnh Hà Đông rồi Hà Tây (1965), Hà Sơn Bình (1976), Hà Nội (1979), Hà Tây (1991) – Từ tháng 8 – 2008 lại thuộc về Thành phố Hà Nội.

Hạ Mỗ là đất thuần nông. Am Từ Vũ thờ Thần Nông, vị thần chuyên coi nghề nông là chứng tích từ ngàn đời truyền lại.

Từ xưa, Hạ Mỗ đã có tiếng là đất thâm canh, ruộng nhiều, đất đai phì nhiêu, cấy lúa trồng mầu đâu đâu cũng thuận.

Khi chưa có đê, nước sông chảy dềnh lên, tràn vào các ô trũng trên vùng đất mấp mô, nơi gò đống, nơi sình lầy. Qua quá trình cải biến, cải tạo tự nhiên, người người chung sức chung lòng kề vai sát cánh san lấp, bồi đắp tạo nên những cánh đồng màu mỡ, bằng phẳng như ngày nay.

Ngoài làm ruộng, nghề nuôi đánh bắt cá, săn bắt muông thú, trồng dâu chăn tằm đều phát triển. Nền kinh tế tự cung tự cấp đã thúc đẩy các nghề tiểu thủ công như mộc, nề, làm gạch ngói, ép mía mật, nấu rượu, chế biến đậu phụ cũng được mở mang.

Người Hạ Mỗ lao động cần cù, siêng năng tiết kiệm. Xưa kia dân cư thưa thớt, diện tích canh tác bình quân theo đầu người còn nhiều nên đời sống luôn ổn định lại có phần sung túc.

Nhờ có tinh thần cộng đồng và tính tự vệ cao, nhân dân Hạ Mỗ đã vượt qua mọi khó khăn, chung sức xây dựng nhiều công trình phúc lợi công cộng. Từ cổng làng, đường làng ngõ xóm đến cầu trú nắng trú mưa trên mọi cánh đồng đều được xây gạch lợp ngói kiên cố, khang trang.

Đặc biệt, các di tích lịch sử văn hóa từ đình, chùa, đền, miếu đến nhà thờ họ, miếu thổ thần xóm đều có quy mô bề thế luôn được duy tu, bảo vệ giữ gìn và phát huy giá trị trong đời sống tâm linh.

Hạ Mỗ là “đất hiếu học, đất trọng thầy. Công thành danh toại xưa nay đã nhiều”. Hạ Mỗ có Gò Nghiên, Gò Bút lại có tiếng là đất làm thơ còn ghi lại trong câu phương ngôn huyện Từ Liêm xưa: “Thơ Mỗ, phú Cách, sách Vẽ” tức thơ làng Hạ Mỗ, phú làng Trúng Đích, văn sách làng Vẽ (Đông Ngạc).

Người Hạ Mỗ hiền lành, chất phác, sống nhân hậu thủy chung, đoàn kết một lòng, dưới trên thuận ý xây dựng xóm làng. Nhưng từ xưa tới nay vẫn luôn sẵn sàng và hiên ngang đứng lên đấu tranh chống mọi thế lực cường quyền hắc ám và giặc ngoại bang. Giai cấp thống trị đã từng thốt lên là dân “bất trị”[12] bởi nơi đây đã diễn ra nhiều sự kiện và những biến động khiến chúng phải bận tâm, e ngại, dè chừng.

Hạ Mỗ là quê hương của Thiền sư Nguyễn Trí Bảo (?-1190), Thái úy Tô Hiến Thành (1102 – 1179), Hoàng giáp Đỗ Trí Trung (1439 – ?). Hạ Mỗ cũng là nơi nhà sư yêu nước Thích Thanh Trang trụ trì chùa Hải Giác là hữu quân chánh tướng của phong trào chống thực dân Pháp cuối thế kỷ 19 và đã anh dũng hy sinh trên mảnh đất này.

Để duy trì và phát huy những truyền thống tốt đẹp của quê hương, nhân dân Hạ Mỗ đã xây dựng và phát huy tốt giá trị lịch sử các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể (Hoành phi, câu đối, văn bia, chuyện kể dân gian…).

 Những phong tục tập quán, lễ hội cổ truyền cùng các di tích lịch sử văn hóa đậm đặc trên quê hương là tài sản vô giá của nhân dân Hạ Mỗ xưa và nay. Đó cũng là sự đóng góp vào kho tàng văn hóa của Thăng Long – Hà Nội nghìn năm văn hiến:

Hạ Mỗ khải hưng, cổ tích lưu tồn trường sinh Văn Hiến địa.

Thăng Long phấn phát, Diên Thành bảo hộ bất hủ Vạn Xuân thiên.

[1] Địa chí Hà Tây. Sở VHTT Hà Tây.1999 ghi” Hạ Mỗ là miền đất rất cổ, với những di chỉ thuộc giai đoạn Phùng Nguyên ở Bá Nội nay thuộc xã Hồng Hà và Kim Ngọc thuộc xã Tân Lập huyện Đan Phượng”.

[2] Có hai giả thuyết về địa danh Ô Diên. Một là Ô Diên hay Kẻ Ó là dấu tích việc sùng bái vật tổ (tô tem) thời thượng cổ (Ô tức chim quạ, diên tức chim diều hâu, ó là chim thuộc loại diều hâu). Hai là Ô Diên có liên quan với quận Chu Diên hồi đầu công nguyên (Ô Diên: cánh diều sắc đen, Chu Diên: cánh diều sắc đỏ). Xa hơn nữa người ta còn nghĩ tới bộ Chu Diên, một trong 15 bộ hợp thành nước Văn Lang thời các vua Hùng. Truyền thuyết kể lại rằng, vào đời Hùng Vương thứ 18, ở vùng Sơn Nam có người họ Trương, gia đình làm nghề đánh cá thường làm việc thiện. Một hôm vợ chồng đi đánh cá tại con sông gần trang Hạ Mỗ, tình cờ bắt được 30 thỏi vàng rồi trở nên giàu có. (“Thần tích, thần sắc làng Thanh Điềm”- Viện Thông tin KHXH. Hà Nội. 1995. Ký hiệu FQ4018/11.29 và “Miếu Đinh Nguyên” trong “”Đan Phượng di tích lịch sử văn hóa và cách mạng” – Nhà xuất bản VHTT. Hà Nội. 2011).

[3] Sách “Lĩnh Nam chích quái” trong “Truyện Hai Bà Trinh linh phu nhân họ Trưng” lại ghi là hai bà “tự lập làm vua, mới xưng là Trưng, đóng đô ở thành Ô Diên”.

[4] Đây là một trong ba giả thuyết về nguồn gốc Hội hát chèo tàu ( Đại hội tàu tượng).

[5] “Đại Nam quốc sử diễn ca” chép: Triệu về Long Đỗ, Nhị Hà.

                                                Lý về Hạ Mỗ ấy là Ô Diên.

[6] Theo Thái Hoàng – Bàn về tên làng Việt Nam – Tạp chí Dân tộc học số 1 – 1982.

[7] Kể chuyện tên làng Việt – Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc – Hà Nội – 2010. Trang 30.

[8] Phú: giàu có, Lộc: Phúc, tốt lành, bổng lộc.

[9] Vi hữu mỹ nữ: Sự mầu nhiệm có mỹ nữ (con gái đẹp).

[10] Bản lưu tại Viện nghiên cứu Hán Nôm – Ký hiệu AE a.2/72 “Hà Đông tỉnh, Hoài Đức phủ, Từ Liêm huyện, Thượng Hội tổng, Hạ Mỗ xã – Thần tích”:

            Ô Diên: “ Đế nãi lập đô vu Từ Liêm chi địa, hiệu viết Ô Diên Thành”.

                        “ Lý Phật Tử cát cứ Từ Liêm vi giới hiệu viết Ô Diên Thành”.

Phú Lộc và Hạ Mỗ: “ Thử gian vương nãi hứa Thượng Mỗ, Hạ Mỗ chi địa dĩ vi Hoàng Lang

(Hoàng công vi đệ bát tử Lý Phật Tử chi tử dã) Phú Lộc chi ấp dã thiết lập cung doanh”.

[11] Hạ Mỗ: Hạ: (ra, ra đời hay xuất hiện) Mỗ (Tên đất, còn đọc là mụ): Thầy dạy con gái, hay người phụ nữ trẻ.

[12] Huyện Từ Liêm xưa có câu “Từ Liêm ngũ Hạ bất khả giao” nghĩa là huyện Từ Liêm có 5 làng Hạ không thể sai khiến (chữ giáo theo tiếng Hán nghĩa là dạy, một âm là giao nghĩa là sai khiến). Đó là các làng Hạ Yên Quyết (tổng Dịch Vọng), Hạ Cát sau đổi thành Đại Cát (tổng Hạ Trì), Hạ Trì (tổng Hạ Trì), Hạ Hội (tổng Tây Đam) và Hạ Mỗ (tổng Thượng Hội).

Nguyễn Tọa