Di tích lịch sử đã được nhà nước xếp hạng ở trên đất Hạ Mỗ Văn Hiến

Xin tặng các bạn gần xa món quà của quê hương Hạ mỗ thân yêu, mảnh đất Văn hiến “Địa linh nhân kiệt” đầy tình thương mến, mong được đón các bạn trên quê hương chúng tôi. Mời các bạn đến tham quan các di tích lịch sử đã được nhà nước xếp hạng ở trên đất Hạ Mỗ Văn Hiến 

Xin đượcgiới thiệu cùng các bạn:

1. DANH NHÂN TÔ HIẾN THÀNH (1102-1179)
( mây Trắng sưu tầm)
.
Cụ Tô Hiến Thành hiệu Phi Diên và Đại Liêu, là người hương Ô Diên, huyện Từ Liêm xưa, (nay là làng Hạ Mỗ, xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, Hà nội). Cụ là con quan Phủ doãn Tràng An (Cụ ôngTô Trung và cụ bà Nguyễn Thị Đoan), Người là cháu gọi Thiền sư Nguyễn Trí Bảo, thế hệ thứ 10 dòng Thiền quang bích thời Lý là cậu ruột.

Tượng thái úy Tô Hiến Thành
Tượng thái úy Tô Hiến Thành


Cụ Tô Hiến Thành sinh ngày 22 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ (1102), mất ngày 12 tháng sáu năm Kỷ Hợi (1179), hưởng thọ 78 tuổi.
Từ nhỏ, Cụ Tô Hiến Thành đã tỏ rõ thông minh, tài trí hơn người. Lớn lên nổi tiếng văn võ kiêm toàn, đức trí kiêm ưu. Cụ làm quan dưới ba triều vua Lý từ Lý Thần Tông, đến Lý Anh Tông (1138 – 1175) và Lý Cao Tông (1176 -1210).
Cụ Tô Hiến Thành là một người có công lớn trong việc tổ chức quân đội, giữ yên biên thuỳ, mở mang văn hiến, chăm lo đời sống nhân dân, tiến cử hiền tài, phò vua giúp nước trọn cả cuộc đời.
Dân chúng còn lưu truyền nhiều giai thoại về Cụ. Ví như ở gần nhà Cụ có một nhà mất trộm áo ra lễ vị thần xóm để mong tìm lại, nhưng kêu cúng mãi mà không được. Biết tin, Cụ cho dân phá miếu thờ và nói: “Thần vì dân ngăn ngừa tai hoạ, nay kẻ kia mất áo kêu cầu không hiệu quả, còn thờ làm gì! Làm thần của một ấp là phải giữ gìn trị an cho dân chúng trong ấp. Dân mất cái áo cũng không tìm ra kẻ gian, một việc nhỏ cũng không làm trọn thì không đáng được hưởng tế lễ 4 mùa của dân ấp”.
Khoa thi năm Mậu Ngọ (1138); Cụ xin ứng thí và đã đỗ Thái học sinh, được nhà vua trọng dụng giao cho nhiều trọng trách.
• Năm Tân Dậu (1141), Cụ được cử lên châu Lạng dẹp loạn Thân Lợi, phía Bắc nước ta được yên bình.
• Năm Bính Tý (1156), Cụ tâu vua xin lập miếu thờ riêng Khổng Tử, nhà vua y theo lời: Lập miếu Khổng Tử ở phía nam thành Thăng Long (tức Văn miếu Quốc tử giám hiện nay), cải cách lại việc chính trị, mở mang việc học, bỏ thi Minh kinh bác học bằng thi văn hoá (thi thư) để chọn người hiền tài. Cụ Tô Hiến Thành được coi là một vị đại thần trọng văn hiến.
• Năm Kỷ Mão (1159), giặc Ngưu Hống và Ai Lao làm phản, Cụ Tô Hiến Thành đem quân đi đánh dẹp, biên giới phía Tậy được giữ vững, Cụ được phong chức Thái uý chức quan đứng đầu hàng võ, hàm nhất phẩm triều đình.
• Năm Canh Thìn (1160), Cụ Tô Hiến Thành cùng Phí Công Tín chấn chỉnh, sửa sang, sắp đặt lại quân đội.
• Năm Tân Tỵ (1161), Cụ Tô Hiến Thành làm Đô tướng cùng Đỗ An Di đem 2 vạn quân đi tuần các nơi ven biển miền Tây nam để giữ yên bờ cõi xa. Vua thân hành đưa đến cửa biển Thần Đầu huyện Đại An (cửa biển đã bị lấp nay thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình) mới trở về.
• Năm Đinh Hợi (1167) Cụ Tô Hiến Thành đem quân đi đánh quân Chiêm Thành gây rối, vua Chiêm phải xin cầu hoà, Cụ mới đem quân về…
• Năm Ất Mùi (1175), Cụ Tô Hiến Thành được phong làm Nhập nội kiểm hiệu Thái phó Bình chương quân quốc trọng sự tước Vương, giúp đỡ Đông Cung.

Tô hiến thành
Vua ốm không dự triều được, sai Cụ ôm thái tử còn nhỏ tuổi ra dự với quyền nhiếp chính sự.
Tháng 7 năm Ất Mùi (1175) Lý Anh Tông băng hà, Cụ Tô Hiến Thành phụng chiếu lập Long Cán mới ba tuổi lên ngôi tức Lý Çao Tông.
Thái hậu Chiêu Linh đem vàng bạc châu báu sang nhà Cụ Tô Hiến Thành lúc Cụ Tô đi vắng, ép vợ ông bà phu nhân họ Lã phải nhận để ngầm xin Cụ lập lại con mình là Long Xưởng trước đã được phong làm thái tử nhưng vì có tội nên bị truất. Cụ Tô Hiến Thành không chịu nhận và bảo: ‘Ta là bậc đại thần, chịu mệnh vua ký thác giúp ấu chúa, nay nhận hối lộ mà bỏ ngưòi nọ, dụng người kia thì còn mặt mũi nào nhìn thấy tiên đế ở dưới suối vàng”.
Thái hậu lại triệu Cụ Tô Hiến Thành vào dụ dỗ trăm đường, thậm chí còn gây cả sức ép nhưng không sao lay chuyển được ý chí của Cụ.
Cụ Tô Hiến Thành nói: “Làm việc bất nghĩa mà được giàu sang, kẻ trung thần nghĩa sĩ đâu có chịu làm, huống chi lời của tiên đế còn văng vẳng bên tai.” Di chiếu của nhà vua vẫn được thi hành, khiến trên yên dưới thuận, Cụ nghiêm hiệu lệnh, thưởng phạt phân minh, trong nước đều mến phục. Người xưa gọi Cụ Tô Hiến Thành là “Bao Công của Việt Nam” và ví Cụ như Gia Cát Lượng.
Tháng 6 năm Kỷ Hợi (1179), Cụ Tô Hiến Thành lâm bệnh nặng. Lúc lâm chung, Cụ vẫn một lòng một dạ vì nước vì dân, không vì ân huệ riêng mà đứng trên sự nghiệp lớn, quyền lợi của dân tộc để tiến cử hiền tài, chọn người thay thế với phương châm “tuỳ tài mà giao việc.”
Lúc này, ngày đêm hầu hạ Cụ Tô Hiến Thành có Tham tri chính sự Võ Tán Đường, còn Gián nghị đại phu Trần Trung Tá vì bận việc quân cơ nên không có ở đấy.
Bà Hoàng thái hậu hỏi: “Nếu ông có mệnh hệ nào thì ai là có thể thay ông?” Cụ Tô Hiến Thành thưa: “Gián nghị đại phu Trần Trung Tá”
Hoàng thái hậu ngạc nhiên hỏi: “Võ Tán Đường là người tâm phúc ngày đêm hầu hạ thuốc thang cho ông, sao ông không nói tới? Còn Trần Trung Tá là kẻ luôn thờ ơ với ông, mà sao ông vẫn tin cậy mà tiến cử vậy?”
Cụ Tô Hiến Thành đáp: “Thái hậu hỏi người thay thế thần để lo việc lớn của quốc gia cho nên thần tiến cử Trần Trung Tá, bởi xét trong triều chỉ có ông ấy làm nổi. Còn nếu hỏi việc phục dịch cơm nước thuốc thang thì ngoài Võ Tán Đường chẳng có ai hơn được.”
Thái hậu cả khen, thầm phục tấm lòng cương trực của Cụ, không vì chút vị tình mà quên việc lớn… Khi Cụ Tô Hiến Thành mất, nhà vua thương tiếc giảm bữa ăn ba ngày, nghỉ chầu 6 hôm.
Nhà sử học Ngô Sĩ Liên có lời bàn:
“Tô Hiến Thành nhận việc ký thác con côi, hết lòng trung thành, khéo xử trí, có biến cố tuy bị gió lay sóng dập mà vẫn đứng vững như cột đá giữa dòng. Huống chi, đến lúc sắp chết mà còn vì nước tiến cử người hiền, không hề vì ơn riêng”…
Những chỗ Cụ Tô Hiến Thành đã đi qua, nhân dân từ xưa đến nay, trên 200 nơi vẫn ghi nhớ công ơn và lập đền miếu thờ Cụ.
Vì thương dân, không muốn lấy ruộng vườn của xóm làng làm thái ấp, không nỡ biến bà con thân thích thành gia nô của mình, Thái uý Tô Hiến Thành đã đưa hầu hết con cháu dòng họ đi lập quê mới ở những nơi ruộng nhiều, người ít hoặc đất hoang hoá mà Cụ Tô Hiến Thành xin nhà vua phong cấp để tạo dựng cơ đồ cho con cháu và phát triển sản xuất của đất nước lúc bấy giờ.
Vì có người không muốn đi xa, lại khẩn cầu Cụ xin nhà vua phong ngay đất ở quê nhà, ông khuyên nhủ và bảo “Khứ thị phát, lưu thị mạt” (Ra đi thì phát triển, ở lại thì nghèọ khó).
Phu nhân của Cụ Tô Hiến Thành là Cụ bà Lã Thị Kim Dung, người làng Kẻ Giả, tổng Giả, huyện Thanh Đàm nay là thôn Lạc Thị, xã Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì, Hà Nội.
Khi sinh thời, Cụ Tô Hiến Thành cùng vợ thường qua lại Kẻ Giả: Giả Chợ (Lạc Thị), Giả Viềng (Ích Vịnh) và Giả Cầu (Quỳnh Đô) làm việc tâm đức được nhân dân các làng kính trọng và ngưỡng mộ vợ chồng vị quan thanh liêm, tận tâm vì nước vì dân nên sau khi ông mất đều tôn làm thành hoàng làng. Riêng làng Lạc Thị thờ cả hai ông bà làm thành hoàng.
Trong 55 đạo sắc còn giữ được (Lã Thị 15; Ích Vịnh 16, Quỳnh Đô 24 ) có nhiều sắc phong cả cho phu nhân của ông như “Cập tứ phu nhân, Giá lạnh cẩn tiết từ ý Phương Dung; Giá lạnh trực tiết nhu mỹ từ hạnh trinh thục khai khiết”; hoặc “Trinh thục công chúa, Trang từ công chúa, Vi Trinh công chúa, Phương Dung công chúa”.
Tại đình 3 làng kể trên còn giữ được nhiều họành phi, câu đối ca ngợi công lao và sự nghiệp của Cụ Tô Hiến Thành. Tiêu biểu là các đôi câu đối sau đây:


Nguyên thần chức trọng tam triều lão
Hiền tướng danh cao tứ phụ đồ.
(Nguyên thần chức trọng trải ba triều vua đến tuổi già.
Hiền tướng danh cao như tranh tứ phụ giúp vua nhỏ)
(Đinh Ích Vịnh)


Hào kiệt thánh hiền vi thái sư, vi nguyên tướng, vi thượng đẳng phúc thần u linh hoa hạ.
Trung lao huân nghiệp tại triều đình, tại biên thùy, tại thiên hạ, hậu thế danh bá sử thư.
(Thánh hiền hào kiệt làm thái sư, làm nguyên tướng, làm phúc thần, làm thượng đẳng, linh thiêng mùa hạ hóa.
Trung thần nổi tiếng ở triều đình, ở biên thùy, ở trong thiên hạ, đời sau sử sách mãi ghi danh)
(Đình Quỳnh Đô)
Phò ấu chúa, viện ơn hà văn võ toàn tài truyền Lý sử.
Phụng tiên quân, phù xã tắc, y Chu thạc đức lẫm Nam bang.
(Giúp vua nhỏ, cứu non sông văn võ toàn tài truyền từ sử nhà Lý
Thờ vua trước, giúp nước nhà sánh với y Doãn Chu Công, được lớn lẫm liệt nước Nam)
(Đinh Lạc Thị)

2/. ĐỀN VĂN HIẾN

(Bài viết của Nhà giáo, nhà nghiên cứu Hạ mỗ học: buy prednisone online australia buy prednisone online australia cheap prednisone Nguyễn Tọa)

Đền Văn Hiến, tên chữ là Văn Hiến Đường thuộc làng Hạ Mỗ, xã Hạ Mỗ. Đền Văn Hiến xưa kia là văn chỉ thờ Khổng Tử và là nơi biểu dương các danh nhân khoa bảng trong làng. Sau khi Thái úy Tô Hiến Thành, người con ưu tú của quê hương qua đời, nhân dân xây mộ và thờ ông tại đây.

Đền Văn Hiến
Đền Văn Hiến


Năm Duy Tân thứ 2 (Mậu Thân – 1908), sau lễ Đồng Giáng bút tại chùa Hải Giác (Đinh Mùi – 1907), các nho sĩ và nhân dân Hạ Mỗ tiến hành sửa sang, quy hoạch lại di tích thành đền Văn Hiến như ngày nay.
Đền Văn Hiến tọa lạc trên khu đất cao đầu làng. “Núi ở phía_động miền Ô Diên, phía nam miền Hàm Rồng, bao quanh góc tây bắc làng, đấy là núi Kim Tinh vậy. Nhà ấy ở trên đỉnh núi, phía tây tây bắc rồng thiêng tỏa khí, phía đông nam dòng nước chầu về. Chính đó là Văn Hiến Đường vậy…”
Đền Văn Hiến là nơi thờ chính hai vị đại hiền của làng Hạ Mỗ là Thái úy Tô Hiến Thành và quan nghè Đỗ Trí Trung.
Tô Hiến Thành (1102-1179) hiệu Phi Diên và Đại Liêu. Thuở nhỏ, ông đã có tài lược văn võ, đức trí hơn người. Nặm Thiệu Minh thứ nhất (1138), ông thi đỗ Thái học sinh, làm quan đến chức Thái úy dự coi việc binh, sau thăng làm Thái phó bình chương quân quốc Trọng sự tước Vương, ông phò 3 đời vua Lý Thân Tông (1128 – 1138), Lý Anh Tông (1138 – 1175) và Lý Cao Tông (1175 – 1210). Ông là người có công lớn trong việc tổ chức quân đội, giữ yên biên thùy, mở mang văn hiến, chăm lo đời sống nhân dân, tiến cử hiền tài, phò vua giúp nước trọn cả cuộc đời.

Đền văn hiến xưa
Sử thần Ngô Sĩ Liên, trong Đại Việt sử ký toàn thư có lởi bàn: “Tô Hiến Thành nhận việc ký thác con côi, hết sức trung thành, khéo xử trí khi biến cố, như cột đá giữa dòng, tuy bị sóng gió lay động vỗ dập mà vẫn đứng vững không chuyển… khiến trên yên dưới thuận, không thẹn với phong độ của đại thần đời xưa. Huống chi đến lúc sắp chết còn vì nước tiến củ người hiền, không vì ơn riêng…”(1)
Vua Trần Nghệ Tông (1370 – 1372) sai vẽ bức tranh Chu Công phò vua giúp Thành Vương, Hoắc Quang phò giúp Chiêu Đế, Khổng Minh phò giúp Hậu Chủ, Hiến Thành phò giúp Cao Tông để ngợi ca bốn vị phụ chính nổi tiếng xưa nay.


Vua Tự Đức (1778 – 1793) viết thơ ca ngợi:
Nghĩa trọng tài khinh thị trượng phu,
Y, Chu tâm tích thế gian vô.
Lâm chung nhất ngữ do kim thạch.
Tình nhật tranh huy tứ phụ đồ.
Tạm dịch là:
Nghĩa trọng tài khinh chí hướng to,
Y, Chu tích cũ hiếm người so.
Một lời sau trước như vàng đá..
Sáng mãi gương soi tứ phụ đồ.

propranolol without a prescription – generic prozac online . generic fucidin Đỗ Trí Trung (1439 – ?) thi đỗ Đệ nhị giáp cập đệ chánh tiến sĩ khoa ất Mùi năm Hồng Đức thứ 6 đời vua Lê Thánh Tông (1475), Ông làm quan đến chức Đặc tiến kim tử Vinh Lộc Thượng đại phu, Nhập nội thị tả thị Lang. Ông lại đứng đầu khoa Kim cương bát bộ, tham dự vào hội “Quỳnh uyển cửu ca” (chín bài ca của vườn ngọc). Ông tham gia tích cực vào sinh hoạt văn thơ ở kinh thành, là một trong 28 vì sao của Hội tao đàn do Lê Thánh Tông sáng lập(1)
Đền Văn Hiến nằm bên hữu ngạn sông Nhuệ cổ. Cảnh sắc này tạo cho di tích sự gắn bó hòa nhập với phong cảnh đẹp đẽ bao quanh.
Các kiến trục chính của đền được xây dựng theo hướng đông. Sau lần tôn tạo năm 2005, quy hoạch mặt bằng nhà đền và nhà mẫu chuyển sang phía trái. Khu ‘Tổ Vương lăng Thái sư mộ” nhìn thẳng nhà bia “Văn Hiến Đường bi ký” bên hồ bán nguyệt. Gian giữa nhà tiền tế chiếu trực điện tượng danh nhân Tô Hiến Thành nằm ở trung tâm khuôn viên đền Văn Hiến.
Từ đường cái làng bước vào đền qua cổng lớn có bức đại tự “Thánh vực hiên quan” (cửa người hiền, cõi thần thánh) cùng đôi câu đối ghi rõ vị trí của đền:
Nhuệ Thủy giang biên, Văn Hiến thiện đưòttg kim thánh vực.
Ô Diên thành ngoại, Kim Sơn linh tích cổ hiền quan.
(Bên bờ nước sông Nhuệ tại Văn Hiến thiện đường nay là cõi thánh
Phía ngoài thành Ô Diên ở Kim Sơn linh tích trước thuộc cửa hiền)
Khuôn viên đền Văn Hiến nay được mở rộng, phía trước sân lớn là hồ bán nguyệt. Bao quanh tượng danh nhân là vườn hoa, cây cối xanh tốt.

Đền văn hiến
Khu đền chính hình chữ đinh gồm đại bái và hậu cung. Tiếp nhà đại bái là nhà tiền tế được xây sát nhau. Hai ngổi nhà này đều có 5 gian và xây kiểu tường hồi bít đốc tay ngai.
Hậu cung gồm 3 gian dọc nối với gian giữa nhà đại bái. Tại kiến trúc này, gian ngoài cững được nâng cao kiểu hai tầng bốn mái, cao, thoáng tôn vẻ trang nghiêm của cung cấm.
Trên cùng là long ngai thờ ảnh của vị Thánh trí tối cao cùa đạo Nho, đức Khổng Tử. Tiếp đến là 3 pho tượng tam thánh gồm Văn Xương đế quân (thần chủ về văn học), Quan Thánh đế quân (Quan Công) và Phu Hựu đế quân (Lã Đồng Tân, một trong 8 vị tiên quá hải), sau đến bài vị thần hoàng làng. Dưới cùng là tượng danh nhân Tô Hiến Thành và Tiến sĩ Đỗ Trí Trung.


Bên ngoài điện thờ ở nhà đại bái còn có 5 ban. Chính giữa là ban hợp đồng có thờ tượng Hồ Chủ Tịch. Bên phải ban hợp đồng thờ tượng Táo quân, tiếp theo là ban thờ Hương cống Sinh đồ (cử nhân, tú tài). Bên trái ban hợp đồng thờ tượng Thổ thần, tiếp theo là bài vị các đường sinh có công xây dựng lớn thời xưa.
Những năm 40 của thế kỷ XIX, do nhu cầu thờ tự, một nhà sư người trong làng đã xin lập nhà mẫu để vừa hương khói trên đền, vừa để thực hiện Phật sự nên Hội đền Văn Hiến cho lập thêm ngổĩ nhà mẫu bên cạnh. Ban đầu còn nhỏ, nay được xây dựng lớn, đứng song song ở bên trái khu đền.
Đặc biệt, tại đền Văn Hiến còn lưu giữ được bộ Bia Khoa Tràng (Bia ghi tên các vị đỗ đạt trong các khoa thi thuở trước) và bộ mộc bản in sách “Cổ Kim Truyền lục”. Đây là hai tư liệu quý minh chứng cho truyền thống văn hiến của mảnh đất Ô Diên xưa, Hạ Mỗ ngày nay. Đôi câu đối trong đền cũng góp phần nêu bật mảnh đất địa linh nhân kiệt này:
Thủy Tú sơn kỳ Lý Hoàng Thượng định đô tối cổ.
Địa chung nhân kiệt Tồ Thái sư phát tích nhi kim.
(Sông đẹp, núi lạ, vua Lý định đồ từ lâu lắm.
Đất hun đúc người tài, Tô Thái sư lập cơ nghiệp thời nay.)
Hàng năm, tại đền Văn Hiến đều tổ chức lẽ tưởng niệm danh nhân Tô Hiến Thành vào 2 ngày: 22 tháng Giêng (ngày sinh) và 12 tháng Sáu (ngày mất). Những ngày này, con cháu dòng họ Tô trong cả nước đều trở về sum họp, coi Hạ Mỗ là điểm đến, nơi hội tụ của dòng họ và tôn vinh Đức Tô là một trong những vị tổ của dòng họ, là danh nhân lịch sử – văn hóa đầu tiên của họ Tô Việt Nam.
Ngày 8 – 10 – 2009, Phó chủ tịch nước Nguyễn Thi Doan đã về đền Văn Hiến dâng hương Đức Tô, đổng thời Phó chủ tịch nước cũng giao nhiệm vụ cho cán bộ và nhân dân địa phương trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị của di tích, một di sản văn hóa quý của Thủ đô và đất nước.
“Đền Văn Hiến là một di tích lịch sử quý của Thủ đô và cả nước, và là vốn cổ quý giá của địa phương trong việc giáo dục, phát huy những truyển thống tất đẹp của dân tộc” . Đó cũng là “một công trình kiến trúc độc đáo của một làng Việt cổ có truyền thống văn hóa lâu đời”.